Tóm tắt: Bài viết trình bày nhóm địa danh có ý nghĩa phản ánh các đặc điểm, tính chất gắn với đối tượng được định danh trong địa danh Hà Tĩnh. Đây là nhóm ý nghĩa quan trọng, được căn cứ để định danh với số lượng địa danh lớn nhất trên tổng số địa danh được khảo sát. Nhóm ý nghĩa này cho thấy những khía cạnh khác nhau của chủ thể định danh, nhất là khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa gắn với vùng đất Hà Tĩnh.
Từ khóa: Địa danh, đặc điểm ý nghĩa, ngôn ngữ - văn hóa, phương ngữ Nghệ Tĩnh.
Abstract: The article presents a group of place names that reflect the characteristics, properties associated with the objects identified in the place names in Hà Tĩnh. This is an important group of meanings that are considered a basis to identify with the largest number of place names out of the total number of place names surveyed. This group of meanings shows different aspects of the identified objects, especially the linguistic and cultural aspects associated with the land of Hà Tĩnh.
Keywords: Place names, characteristics of meanings, language - culture, Nghệ Tĩnh dialects.
1. Mở đầu
Địa danh được lấy từ vốn từ chung và mang chức năng định danh, do vậy, cũng có chức năng biểu vật (chức năng biểu hiện ý nghĩa của tên gọi sự vật) và như vậy, mỗi địa danh đều có ý nghĩa của nó.
Số liệu sử dụng trong bài báo này là kết quả khảo sát địa danh trên phạm vi toàn tỉnh Hà Tĩnh. Chúng tôi tiến hành điều tra các địa danh dựa vào nguồn tư liệu của các văn bản hành chính các cấp. Đồng thời, chúng tôi tiến hành điền giã, thu thập các tên gọi tồn tại thực tế trong dân gian tại các địa bàn. Số liệu này đã được chúng tôi sử dụng trong đề tài Khảo sát địa danh Hà Tĩnh (Luận án Tiến sĩ năm 2012).
Khảo sát địa danh ở Hà Tĩnh, chúng tôi nhận thấy phạm vi ý nghĩa mà các địa danh phản ánh rất rộng, bao gồm nhiều đối tượng địa lý khác nhau tồn tại trên địa bàn. Các địa danh hướng đến hai nhóm ý nghĩa sau: nhóm thứ nhất, với những địa danh như: rú Mồng Gà, đôộng Ngựa, bãi Vọt, hòn Ngư, kẻ Gát (Cát), kẻ Tùng,... (các thành tố chung rú, đôộng từ địa phương Nghệ Tĩnh = núi, đồi trong ngôn ngữ phổ thông). Điểm chung của các địa danh này là phản ánh một đặc điểm, tính chất nào đó gắn với đối tượng địa lý được định danh và hầu hết là những địa danh tự nhiên. Nhóm thứ hai: làng Yên Cư, làng Yên Trạch, làng Lạc Thiện, làng Trung Lễ, làng Phú Phong,… lại hướng đến một “hiện thực khác”, “hiện thực có tính chất tâm lý nguyện vọng” của con người - chủ thể định danh, thường gắn với địa danh hành chính hoặc địa danh văn hóa. Bài viết này, chúng tôi trình bày nhóm ý nghĩa thứ nhất, nhóm ý nghĩa phản ánh đặc điểm, tính chất gắn với đối tượng địa lý được định danh trong địa danh Hà Tĩnh.
2. Ý nghĩa phản ánh đặc điểm, tính chất trong địa danh Hà Tĩnh
Như đã trình bày, ý nghĩa của các địa danh ở Hà Tĩnh rất đa dạng, nhưng tựu trung thuộc về hai “mảng hiện thực” vừa nêu ở trên. Trong đó, nhóm ý nghĩa phản ánh đặc điểm, tính chất gắn với đối tượng địa lý được định danh là nhóm có ý nghĩa phản ánh hiện thực (có lý do). Nhóm ý nghĩa phản ánh thứ hai gắn với nguyện vọng, tâm lý của chủ thể định danh phần lớn mang tính võ đoán. Chẳng hạn, địa danh làng Yên Lạc được định danh với ý nghĩa thể hiện mong muốn nơi cư trú luôn được yên bình, vui vẻ, phát đạt, nhưng trên thực tế vùng đất này có thể không hoặc chưa được như mong muốn.
Kết quả tổng hợp từ bảng trên cho thấy, nhóm ý nghĩa phản ánh đặc điểm, tính chất của đối tượng được định danh chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số 15.111 địa danh ở Hà Tĩnh, chiếm 57%. Kết quả khảo sát như sau (Xem bảng 2).
2.1. Trường nghĩa chỉ tính chất, đặc điểm của đối tượng
Trường nghĩa này có số lượng địa danh lớn nhất, với 3.208 địa danh. Đây là phương thức định danh phổ biến vì hầu hết mọi đối tượng địa lý, nhất là các đối tượng địa lý tự nhiên đều mang tính chất, đặc điểm nào đó để phân biệt với các đối tượng khác. Một số ví dụ tiêu biểu về trường nghĩa này:
Rào Ác (Ác Giang) tức sông Ngàn Trươi, sở dĩ gọi sông Ác vì dựa vào tính chất của con sông này là chảy qua những khu vực rừng núi quanh co, hiểm trở, nên dòng chảy xiết, nhiều ngầm, xoáy nước nguy hiểm. Cũng có cách lý giải sông này chảy qua các khu vực rừng núi nhiều “sơn nham chướng khí” nên nước không lành, không tốt đối với sức khỏe con người nên gọi là ác.
Vũng Áng, tên gọi này dựa vào tính chất vũng biển này có đặc điểm nước sâu và đặc biệt kín gió. Vũng Áng được che chắn bởi những ngọn núi gần như thành một vòng tròn, nên dù bên ngoài có gió to sóng lớn thì bên trong vẫn rất yên tĩnh như một cái “ao làng”. Sách Nghệ An ký của tác giả Bùi Dương Lịch đã chép về địa danh này như sau: “Đảo Áng, ở ngoài biển Kỳ Hoa. Vách đá đột ngột nổi lên bao vây ba mặt, bên trong yên lặng như ao. Khách đi biển, khi gặp gió bão thường hay chạy thuyền vào nấp ở đây” [9, tr.160].
Sông La, tên chữ Hán là La Giang, các văn bản chữ Hán đều ghi chữ la (với nghĩa lụa là) một loại vải mỏng mềm mượt. Cách định danh như vậy dựa vào tính chất dòng chảy của con sông này. Khác với các con sông khác, sông La chảy qua địa hình bằng phẳng xuôi dần xuống phía Đông nên dòng chảy rất hiền hòa, êm đềm tựa dải lụa. Sông La bắt nguồn từ ngã ba Tam Soa do sự hợp lưu của hai con sông Ngàn Sâu từ Hương Khê và sông Ngàn Phố từ Hương Sơn đổ về, chảy qua địa phận huyện Đức Thọ, nhập nguồn với sông Lam của Nghệ An tại ngã ba Phủ rồi đổ ra biển.
Ao Mặn, tên chữ Hán là Hàm Trì, sở dĩ có tên gọi như vậy vì tính chất nước của ao này có vị mặn của muối. Điều gây ngạc nhiên ở chỗ ao này thuộc huyện Hương Khê, khu vực miền núi phía Tây Nam Hà Tĩnh, cách rất xa biển nhưng nước lại có vị mặn như nước biển. Một số giả thuyết khoa học giải thích cho hiện tượng này là dấu vết còn lại của biển ở khu vực có địa danh thời kỳ xa xưa trước khi biển lùi. Ngoài ao này, ở huyện Hương Khê còn phát hiện những ngấn nước trên các vách đá có dấu hiệu kết tủa của muối.
Khe Nước Sốt, (từ sốt phương ngữ Nghệ Tĩnh = nóng), còn có tên khác là suối Nước Nóng, tên chữ Hán là Nhiệt Khê. Có những điểm thuộc khe này nhiệt độ nước lên đến 60-700C. Sách Nghệ An ký viết về suối này như sau: “Khe Nước Nóng (Nhiệt Khê) ở ngọn Đột Cốt, núi Giăng Màn, huyện Hương Sơn, từ núi Đại chảy vào sông Phố. Khe có một khúc nước hơi đen, hơi bốc lên như mù khói; nước nóng có thể luộc gà được” [9, tr.188].
Một số địa danh cư trú hành chính khác thuộc trường nghĩa này như: kẻ Nắng nay thuộc thị trấn Vũ Quang được xem là một trong những khu vực nắng nóng nhất của Nghệ Tĩnh về mùa hè; kẻ Gát vì đặc điểm thổ nhưỡng khu vực này toàn cát (gát từ địa phương = cát); thị trấn Phố Châu vì ở địa điểm bãi bồi ven sông - trên bến dưới thuyền (phố = bờ, bến nước, châu = cồn - bãi sông, Phố Châu = bãi bồi bên bờ sông); làng Cương Gián, vùng đất có tính chất “bưng biền” cồn bãi (cương = gò, đồi; gián = sông lạch). Cách giải thích Cương Gián theo nghĩa vùng đất tách biệt cũng dựa vào đặc điểm tự nhiên như vậy.
Một số ví dụ trong trường nghĩa vừa nêu cho thấy, cách định danh dựa vào tính chất, đặc điểm của đối tượng là cách định danh “có lý do”. Qua tên gọi những địa danh theo trường nghĩa này, chúng ta phần nào thấy được tính chất phong phú, đa dạng và thú vị của thiên nhiên và con người Hà Tĩnh.
2.2. Trường nghĩa phản ánh hình dáng của đối tượng
Trường nghĩa này có số lượng 1.517 địa danh, chủ yếu là địa danh thuộc các đối tượng địa lý tự nhiên. Các tên gọi thuộc trường nghĩa này được hình thành theo cơ chế ẩn dụ, dùng sự vật này để gọi tên cho sự vật kia dựa vào sự tương đồng nào đó giữa các sự vật.
Rú Đòi, tên chữ Hán là Đội Sơn ở huyện Thạch Hà, có Đòi Mẹ và Đòi Con, tương truyền đây là đỉnh thứ 100 của dãy Ngàn Hống rơi về phía Nam. Hình dạng của núi ở đây rất đặc biệt, có ngọn nhỏ, ngọn to (Đòi Mẹ, Đòi Con) và những hòn đá nối tiếp nhau thành hàng, trong đó có những hòn đá mọc ra giữa sông giống như một nhóm người đang đuổi bắt nhau. Từ đòi trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh có nghĩa là đuổi (đòi nhau = đuổi nhau), tên gọi của rú Đòi là vì lẽ đó. Người dân địa phương vẫn hình dung quần thể núi đá ở đây như hình ảnh mẹ và đàn con nô đùa đuổi bắt nhau (gồm một mẹ và chín con). Về núi này cũng có người hình dung hình dáng núi như một đội quân (Đội Sơn). Theo tác giả Bùi Dương Lịch, tên gọi huyện Thạch Hà (Sông Đá) cũng xuất phát từ địa danh này. [9, tr.294]
Hòn Ngư, tên chữ Hán là Song Ngư, là hòn đảo nhỏ nằm trên biển giữa hai huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) và Nghi Lộc (Nghệ An). Ở Nghệ An, người ta gọi đảo này là Hòn Mắt, xuất phát từ mục đích lấy hòn đảo này làm mốc như là ngọn hải đăng khi tàu thuyền đang ở ngoài khơi để trở vào cho đúng vị trí. Cũng có người cho rằng, gọi là Hòn Mắt vì đảo nổi lên trên mặt biển, nhìn từ xa tựa như hai con mắt khổng lồ. Người Hà Tĩnh gọi là hòn Ngư là định danh dựa vào hình dáng Song Ngư hí thúy (hai con cá giỡn nước).
Rú Giăng Màn, màn tiếng địa phương Nghệ Tĩnh = mùng ngôn ngữ phổ thông, tên chữ Hán là Khai Trướng Sơn. Còn có tên khác là núi Khai Môn (tên Khai Môn có lẽ do người ta ghép hai yếu tố khai của tên gọi Khai Trướng và môn là tên gọi của thác Vũ Môn thuộc núi này là một ngọn thác lớn, cảnh quan tự nhiên rất hùng vĩ, tương truyền là nơi cá chép hóa rồng). Đây là một dãy núi lớn ở phía Tây Hà Tĩnh trên địa phận các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê. Dãy Giăng Màn ở Nghệ An - Hà Tĩnh cho đến Thừa Thiên Huế gọi chung là Trường Sơn Bắc. Về tên gọi của núi này, tác giả Bùi Dương Lịch trong Nghệ An ký chép như sau: “Núi Giăng Màn (Khai Trướng) nằm trên đất hai phủ Ngọc Ma và Lâm An, là núi có tiếng ở Nghệ An. Núi cao lớn lấn trời, trông hệt như tấm màn giăng vậy” [9, tr.65].
“Địa dư thiên lý tịch,
Thiên Trướng nhất bình khai”,
(Đất đai mở mang ngàn dặm,
Màn trời giăng ra một tấm bình phong).
là hai câu thơ trong Ốc lậu thoại của tác giả viết về núi Giăng Màn.
Một số ví dụ khác: rú Bơờng (Côn Bằng Sơn) là ngọn núi có hình dáng được mô tả là giống với chim Bằng, vừa giống với cá Côn ngoài đại dương; rú Tay Tiên (Tiên Chưởng Sơn), núi có hình dáng như bàn tay tiên; rú Trôốc Lịp là núi có hình dạng giống cái chóp nón, (trôốc = đầu; lịp = nón), đây là địa danh có các yếu tố cổ; rú Yên Ngựa (Mã Yên Sơn); rú Chữ Nhất (Nhất Tự Sơn);… Vực Trống giống với cái trống, miệng vực tròn và phình ra ở phần giữa; vực Cân Đẩu có hình dáng giống với cái mũ của chức quan võ ngày xưa. Những vùng đất nhỏ như đôồng (cánh đồng) cũng có rất nhiều tên gọi được định danh dựa vào hình dạng của đối tượng như: đôồng Lưỡi Cày, đôồng Cánh Buồm, đôồng Cổ Cò, đôồng Đuôi Cá, đôồng Cánh Én, đôồng Tù Và,… Các địa danh cư trú hành chính ít được định danh theo trường nghĩa này.
Trên đây là một số ví dụ tiêu biểu cho trường nghĩa phản ánh về hình dáng của đối tượng địa lý trong địa danh ở Hà Tĩnh.
2.3. Trường nghĩa phản ánh kích thước của đối tượng
Trường nghĩa này cũng có số lượng địa danh khá lớn, với 1.496 trường hợp. Cách thức định danh theo trường nghĩa này cho chúng ta thấy được kích thước, quy mô của đối tượng.
Cồn Cồ, (cồ yếu tố cổ = to, lớn), đây là một cồn cát dài mênh mông ở xã Trung Tiết xưa, nay là phường Thạch Quý. Theo các nhà nghiên cứu, cồn cát này là vết tích của bờ biển xưa, trước thời kỳ biển lùi. Khi dân số phát triển, người ta đã xây dựng nhà cửa, chợ búa trên cồn cát đó.
Rú Hôống - ngàn Hống - Hồng Lĩnh (hôống là phương ngữ và là yếu tố cổ = lớn). Một số ví dụ khác: bến đò Đại Ngàn, khe Cấy (cấy = cái = lớn), đèo Cả (đèo Ngang), đèo Con, đá Tướng, đá Đại Tướng, đôồng Vời, đôồng Nậy, đôồng Lôộng (rộng), đôồng Chẹt (nhỏ, hẹp),… Tên gọi một vài đơn vị cư trú như: xóm Trại Tiểu, xóm Nậy, chợ Đại,...
2.4. Trường nghĩa phản ánh vật liệu làm nên đối tượng
Thuộc trường nghĩa này là những địa danh gọi tên sự vật được xây dựng dựa trên chất liệu làm nên chúng. Trường nghĩa này gồm 1.285 trường hợp. Ví dụ: cầu Gỗ, cầu Sắt, bến Đá, chùa Đá, rú Sỏi, rú Đất, giếng Đất, giếng Gỗ,... Giếng Gỗ còn gọi là giếng Chăm, loại giếng này được phát hiện ở khu vực Kỳ Anh với số lượng khá nhiều. Vật liệu ghép bên trong giếng hoàn toàn bằng các phiến gỗ. Theo các nhà chuyên môn, loại giếng này là giếng cổ và là của người Chăm.
2.5. Trường nghĩa phản ánh âm thanh của đối tượng
Trường nghĩa phản ánh âm thanh của đối tượng có 520 trường hợp. Những địa danh này được tạo thành theo phương thức láy (dựa vào tiêu chí ngữ âm), mô phỏng âm thanh của đối tượng để gọi tên. Ví dụ: khe Hau Hau, khe Ồ Ồ, khe Rào Rào, xai Thình Thình,… Trong đó, nổi tiếng nhất đã đi vào sử sách là khe Hau Hau (hau hau từ cổ chỉ âm thanh). Địa danh này, trong Nghệ An ký được tác giả Bùi Dương Lịch viết như sau: “Nước ở Nghệ An có ba nơi đáng gọi là giai phẩm: một là nước sông La ở huyện La Sơn; hai là nước suối Việt Tỉnh ở huyện Kỳ Hoa và ba là suối Hau Hau ở núi Nam Giới huyện Thạch Hà nay chỉnh lại tên gọi là suối Hiêu Hiêu vậy. Vì rằng Nghệ An gần núi giáp biển, khe suối sông ngòi có nhiều cát sỏi và chất mặn lẫn vào. Duy chỉ có ba nơi kể trên là nước trong, ngọt và nhuận. Nhưng sông La nước trong lặng nên tính trệ; nước giếng Việt phun mạnh nên tính cấp - không trệ, không cấp, uống vào thông nhuận thì chỉ có suối này là hơn cả. Song nghe đến tên gọi thì ai mà chẳng than rằng suối chưa gặp người vậy. Từ thượng cổ việc chính danh cho trăm vật bắt đầu từ vua Hoàng Đế. Nhưng trời đất mênh mông, phẩm vật đông đảo, rất nhiều vật không được gặp người… Gặp tiết hè đem thư đồng đến suối để tắm… Đang hát bỗng nghe trong núi có tiếng phình phịch lanh lảnh. Bọn học trò đến kinh ngạc bảo nhau rằng mưa. Nhưng ngửa mặt trông lên trời thì thấy trời quang mây tạnh. Trong khi hốt hoảng lại nghe như tiếng kêu lanh canh của các thứ ngọc, tiếng đàn và như tiếng reo cười của hàng ngàn hàng vạn người hái củi cắt cỏ ở các con đường núi. Bọn học trò liền quên sự kinh ngạc và bình tĩnh lắng nghe thì ra đó là tiếng gió dội vào vách núi và tiếng sóng triều. Tiếng gió ứng với “âm thương”, tiếng nước triều ứng với “âm cung”. Rồi đó những người đến lấy nước suối nhổ neo dương buồm cho thuyền chạy, giọng nói phương Nam vang lên trên sông. Khi ấy phường chài nhìn nước triều mà quăng lưới, phường buôn nhân gió mà cho thuyền chạy, những người khác sửa soạn guồng nước cho ruộng muối, họa theo tiếng hòa vui của con chim trên bãi cát. Cảm thấy trời đất, núi sông, thầy trò, người và ta được hiêu hiêu trong thế giới, tiện đâu ở đấy, có gì ăn nấy, mà không biết tại sao được như vậy. Sách truyện có nói “người biết cũng hiêu hiêu, không biết cũng hiêu hiêu - phải chăng chỉ vào suối này?” Ôi danh phải xứng với thực, nay thế là được cái tên đúng đắn của suối rồi vậy. Bèn gọi những người ở núi đến bảo rằng: “Tôi chỉnh lại tên suối là Hiêu Hiêu” hai tiếng này gần với hai tiếng Hau Hau tên cũ của suối, mà còn nói được cái thực của suối vậy” [9, tr.185-186].
Qua trích dẫn trên, chúng ta có thêm cơ sở để khẳng định mỗi địa danh đều gắn với chủ thể định danh và với những lý do, những ý nghĩa nhất định. Vì vậy, khám phá các địa danh sẽ cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về thiên nhiên, về con người và văn hóa của mỗi vùng đất. Nghiên cứu địa danh vì vậy cũng sẽ góp phần quan trọng để tìm hiểu những vấn đề về ngôn ngữ - văn hóa.
Ngoài 5 nhóm ý nghĩa chúng tôi đã trình bày, còn có 3 nhóm khác, gồm: nhóm ý nghĩa phản ánh màu sắc của đối tượng với 257 địa danh; nhóm ý nghĩa phản ánh số lượng của đối tượng với 168 địa danh và nhóm ý nghĩa phản ánh thời gian tồn tại của đối tượng với 161 địa danh.
3. Kết luận
Ý nghĩa là một nội dung quan trọng khi nghiên cứu địa danh. Trong địa danh Hà Tĩnh, chúng ta có thể nhận thấy chủ thể định danh đã vận dụng nhiều phương thức định danh khác nhau cho các đối tượng địa lý thuộc địa bàn cư trú.
Nhóm địa danh với ý nghĩa phản ánh đặc điểm, tính chất khách quan của đối tượng phản ánh óc quan sát của con người Hà Tĩnh, chủ thể định danh. Đó là cách tư duy trực giác, tỉ mỉ, chi tiết. Những dấu hiệu của các đối tượng địa lý như hình dạng, kích thước, tính chất, vị trí,… đã được định danh một cách cụ thể.
Thông qua cách định danh các đối tượng địa lý, nhất là những địa danh gắn với đặc trưng của phương ngữ Nghệ Tĩnh, đã góp phần phản ánh những nét riêng của địa danh khu vực này, đồng thời góp phần phản ánh đặc điểm của tiếng Việt tồn tại trong phương ngữ Trung Bộ. Những đặc trưng ý nghĩa như vừa nêu, một mặt phản ánh một số phương diện về ngôn ngữ - văn hóa của con người nơi đây trong sự đối sánh với văn hóa ở các khu vực khác; mặt khác góp phần vào việc biên soạn các loại từ điển bách khoa, bách khoa thư địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dương Văn An, Ô Châu cận lục (bản dịch nghĩa của Viện nghiên cứu Hán Nôm), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.
[2] Đào Duy Anh, Hán - Việt từ điển, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957.
[3] Nguyễn Văn Âu, Địa danh Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1993.
[4] Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên), Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên, Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999.
[5] Hoàng Trọng Canh, Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.
[6] Nguyễn Tải Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1995.
[7] Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
[8] Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.
[9] Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thị Thảo dịch và chú, Nghệ An ký, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
NGUYỄN VĂN LOAN