Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 8 bản ghi

THỨC KIẾN TRÚC CỔ HI LẠP - LA MÃ

thức kiến trúc trong đó tương quan giữa các bộ phận của hệ "dầm - cột" đạt tới mức độ hoàn mĩ và có hiệu quả nghệ thuật cao. Thức kiến trúc Hi Lạp có các loại Đôri (Dorique), Iôni (Ionique), Côrin (Corinth); các thức này được áp dụng trong kiến trúc cổ La Mã và đã phát triển thêm các loại thức Tôxcan (Toscane) và Compôsit (Composite).


Thức kiến trúc cổ Hi Lạp - La Mã

NỘI CHIẾN LA MÃ

các cuộc chiến tranh giữa các tướng lĩnh, giành nhau quyền đứng đầu nước Cộng hoà La Mã. NCLM lần 1 (91 - 88 tCn.): Mariut (G. Marius) được những người “Bình dân” đưa lên làm Tổng tài (consul) năm 107 tCn. và được bầu lại vào các năm 104 và 100 tCn. Ngay từ 107 tCn., những người quý tộc đứng đầu là Xula (Sulla) chống lại Mariut và nội chiến nổ ra. Xula, bị Mariut đuổi ra khỏi La Mã, đã đem quân về và lật đổ được Mariut. Sau đó Mariut lại đem quân về cướp lại được La Mã và được cử làm Tổng tài lần thứ 7. NCLM lần 2 (49 - 48 tCn.): năm 60 tCn., bộ ba “Tam hùng” (Triumvirat; cg. Tam đầu chế) gồm Xêda (G. J. Caesar), Pômpâyut (Cneius Pompeius Magnus), Craxut (M. L. Crassus) cùng nhau nắm quyền. Năm 52 tCn., Craxut chết, Xêda đang chinh phạt ở Galia (Gallia), Pômpâyut thủ tiêu chế độ “Tam hùng” và làm Tổng tài một mình. Xêda về đánh bại Pômpâyut ở Phacxalia (Pharsalia; 48 tCn.) và một mình cai trị đế quốc La Mã, tuy vẫn giữ nguyên chế độ cộng hoà. NCLM lần 3 (36 - 31 tCn.): sau khi Xêda chết (44 tCn.), bộ ba Octavianut (G. Octavianus), Antôniut (T. A. F. Antonius) và Lêpiđut (M. A. Lepidus) tranh giành quyền lực, lập ra “Tam hùng” lần thứ 2 (43 tCn.) rồi đến 40 tCn. thoả thuận chia nhau cai trị đế quốc La Mã: Octavianut giữ phía tây, Antôniut giữ phía đông và Lêpiđut giữ Bắc Phi. Năm 36 tCn., Octavianut phế truất Lêpiđut và đến năm 31 tCn., đánh bại Ăngtoan (Antoine) ở Actinum và nắm quyền một mình với danh hiệu Auguxtut (Augustus - Tôn nghiêm); xt. Auguxtut C. J. C. O.

NGHỆ THUẬT LA MÃ

 nền nghệ thuật có nguồn gốc bản địa Êtơruxi (Etrusci) và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thế giới Hi Lạp hoá. Về kiến trúc, các công trình được xây dựng theo quy hoạch đô thị: thành phố nằm trên một mặt bằng trực giao, tô điểm bằng những cổng khải hoàn, những nhà hát, những đền thờ, những đấu trường, những nhà tắm rộng rãi, những cầu máng dẫn nước đồ sộ. Người La Mã biết dùng đá cuội trộn với vữa không tốn kém như dùng đá tảng của người Hi Lạp, với vật liệu mới họ có thể tạo ra những vòm, cuốn để mở rộng quy mô của các công trình. Tiêu biểu cho kiến trúc La Mã: đấu trường Côlôdêum (Colosseum) có thể chứa được 50 nghìn người; cầu máng dẫn nước Gacđơ (Gard) ở Nim (Nimes; Pháp); cổng khải hoàn của hoàng đế Cônxtantinut (Constantinus); cột trụ chiến công của hoàng đế Tơrajăng (Trajan) cao 40 m, chung quanh có những phù điêu với 2.500 nhân vật bọc kín thân cột.

Về điêu khắc, La Mã không có những tượng thần thoại như Hi Lạp mà chú ý đến các chiến trận đương thời. Pho tượng đồng hoàng đế Maccut Aurêliut (Marcus Aurelius) là khuôn mẫu cho tượng người cưỡi ngựa các đời sau. Tượng chân dung bán thân các nhân vật danh tiếng, các hoàng đế cũng là sáng tạo của các thiên tài La Mã.

Hội hoạ La Mã tìm thấy ở những phế tích của thành phố Pômpây (Pompéi) và Hecculanum (Herculanum) bị núi lửa Vêduviô (Vésuvio) vùi lấp từ năm 79. Đó là những tranh tường trang trí trong các căn phòng, với những đề tài thần thoại chép lại người của Hi Lạp.

LUẬT LA MÃ

thuật ngữ dùng để chỉ pháp luật La Mã cổ đại. Pháp luật của nhà nước La Mã thuộc kiểu nhà nước chủ nô dưới hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ từ thế kỉ 3 đến thế kỉ 1 tCn. LLM thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô, bảo vệ lợi ích của giai cấp chủ nô thống trị, trấn áp giai cấp nô lệ. Có thể coi LLM là hệ thống luật được xây dựng công phu với sự đóng góp to lớn của các luật gia La Mã. Rất nhiều khái niệm, chế định của LLM, đặc biệt là trong lĩnh vực luật dân sự, lĩnh vực điều chỉnh các quan hệ tài sản, khái niệm sở hữu, vật quyền, hợp đồng, trái vụ, quan hệ pháp luật về hôn nhân - gia đình, thừa kế được coi là cơ sở, có giá trị khoa học, vv. Theo Enghen (F. Engels), LLM là sự thể hiện về mặt pháp lí có tính chất kinh điển về điều kiện và xung đột xã hội, trong đó có sự ngự trị của chế độ tư hữu thuần tuý mà sau này các văn bản pháp luật khó có thể phủ nhận tính giá trị của nó. Lí luận pháp luật dân sự nói chung và đặc biệt là luật dân sự tư sản trên thực tế đã dựa rất nhiều vào kết quả nghiên cứu sáng tạo của các luật gia La Mã cổ đại.

Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các cơ sở đào tạo cử nhân đều đưa LLM vào chương trình giảng dạy để trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về pháp luật dân sự.

LA MÃ

x. Rôma.

KIẾN TRÚC LA MÃ

(cg. nền kiến trúc La Mã), trước thế kỉ 17 tCn., người Italia chiếm địa vị chủ yếu trên bán đảo Anpin, trên vùng Rôma (Roma) ngày nay và đã có một nền kiến trúc riêng dùng vật liệu đá. Nhưng đến thế kỉ 6 tCn., người Latinh hùng mạnh hơn, chịu nhiều ảnh hưởng Hi Lạp, họ tồn tại theo thể chế các thành bang cộng hoà, thế lực lan rộng dần khắp vùng Địa Trung Hải. Trên cơ sở dùng lối tạo dáng công trình bằng thức cột của người Hi Lạp, người La Mã với các kĩ thuật và vật liệu mới như vòm, cuốn khẩu độ lớn, bê tông,... cùng với tiềm năng xã hội lớn, KTLM đã đại diện cho một bước nhảy vọt của kiến trúc thế giới từ thế kỉ 2 tCn. đến thế kỉ 5 sCn. Từ thời kì cộng hoà trước Công nguyên, các đô thị La Mã có bộ mặt mới mẻ với các đường phố chính rộng trên 30 m, hai bên là những dinh thự lớn, các nhà tắm công cộng, nhà hát; trên các quảng trường lớn có trường đấu, nhà giao dịch, cửa hàng, những cổng chào,... Thành phố cũng đã có hệ thống cấp nước sinh hoạt lấy từ các vùng cao, xa hàng chục kilômet. Thành phố Pômpây (Pompéi) (khai quật cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20) là sản phẩm kiến trúc chính của thời kì cộng hoà, ở đây có những badilica cổ nhất. Dinh thự Pan (Pans) (nhà ở) chiếm gần hết một góc phố của Pômpây. Thời kì đế quốc, để lại nhiều kiến trúc nổi tiếng đến ngày nay như nhà tắm Điôclêtianut (Diocletianus), Caracala (Caracalla); các quảng trường Auguxtut (Augustus), Xêda (Caesar), trường đấu Côlidê, điện thiên thần Păngtêôn (Panthéon), vv. Cuối thời kì đế quốc, kiến trúc tôn giáo phát triển mạnh, nhất là ở các địa phương ngoài La Mã. Lí luận KTLM để lại trong cuốn sách 10 tập của Vitơruyvơ (Vitruve). Ngoài 3 thức cột Hi Lạp, người La Mã còn xây dựng thêm một thức mới: thức Tôxcan.

GIÁO DỤC LA MÃ

hệ thống giáo dục Nhà nước La Mã chiếm hữu nô lệ, thời kì cộng hoà (cuối thế kỉ 6 - thế kỉ 1 tCn.). Có hai loại trường: sơ tiểu và văn phạm. Trường sơ tiểu dạy con trai người tự do nghèo, học phí thấp. Trường văn phạm tư thục nhận con gia đình quý tộc giàu có, dạy văn phạm và văn chương Latinh, tiếng Hi Lạp - La Mã. Sau khi La Mã thôn tính Hi Lạp, mở trường theo mẫu trường văn phạm, đào tạo người quản lí nhà nước. Thời Đế chế (giữa thế kỉ 1 tCn. - cuối thế kỉ 5 sCn.), Nhà nước La Mã trực tiếp quản lí giáo dục. Giáo dục dần dần trở thành hình thức, xa rời cuộc sống, mang nặng tính tôn giáo. Nhà lí thuyết sư phạm nổi tiếng thời Đế chế La Mã là Quyntilianut (M. F. Quintillianus; cg. Quyntiliêng).

ĐẾ QUỐC LA MÃ THẦN THÁNH

tên gọi một đế quốc Kitô giáo ở Châu Âu thời trung đại, tự cho là kế tục đế quốc La Mã và đế quốc Saclơmanhơ (Charlemagne). Do hoàng đế Đức Ôttô I (Otto I) thành lập từ năm 962. Từ đó, luôn luôn do các vương triều Đức kế tiếp nhau trị vì cho đến khi tan rã năm 1806.

Qua các cuộc chinh phục đất đai, lãnh thổ ĐQLMTT bao gồm các vùng đất ngày nay là các nước Đức, Áo, miền Tây Sec, Thụy Sĩ, miền Đông Pháp, miền Bắc và Trung Italia. Tuy nhiên, hoàng đế ít có thực quyền. Từ giữa thế kỉ 15, mang tên là Đế quốc La Mã thần thánh Giecman (German). Lúc đầu liên minh, sau đó thường xuyên xung đột với các giáo hoàng La Mã để giành quyền bá chủ thế giới đối với các dân tộc theo Kitô giáo ở Châu Mĩ. Bị suy yếu qua nhiều cuộc tranh chấp nội bộ. Từ 1648, chỉ còn tồn tại một liên minh lỏng lẻo với các vương quốc độc lập trên danh nghĩa. Sau những chiến thắng của Napôlêông I (Napoléon I), chính thức bị tan rã (1806). Hitle (A. Hitler; 1889 - 1945) thường gọi ĐQLMTT là Đế chế I của Nhà nước Đức.