Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THÙNG

1. Đơn vị cũ ở Việt Nam, dùng để đo thể tích các lượng hạt nông sản (thóc, gạo, đậu, vv.) hoặc chất lỏng (rượu, nước mắm, mật, vv.), có giá trị khoảng 20 lít, thay đổi tuỳ theo các vùng.

2. Đơn vị đo thể tích dầu thô hoặc các sản phẩm dầu hoả có giá trị bằng 158,988 lít (A. barrel).

Tìm được 1888 bản ghi

THIÊN VĂN TRẮC ĐỊA

bộ phận của bộ môn thiên văn thực hành, nghiên cứu các phương pháp sử dụng những kết quả quan sát thiên văn cho các công việc về trắc địa và vẽ bản đồ, xác định hình dáng kích thước và lực hấp dẫn của Trái Đất. Thuật ngữ "thiên văn trắc địa" xuất hiện vào nửa đầu thế kỉ 20 trong tư liệu khoa học của Đức. Được ứng dụng trong trắc địa lí thuyết và trắc địa vệ tinh. Xt. Trắc địa.

THIÊN VĂN SAO

bộ môn thiên văn học ra đời từ cuối thế kỉ 18 ở nước Anh, do Hecsen (W. Herschel) sáng lập, nghiên cứu các quy luật chung về cấu tạo, thành phần, động lực học và sự tiến hoá của các hệ thống sao; nghiên cứu áp dụng các quy luật ấy vào Thiên Hà của chúng ta. TVS bao gồm: thiên văn sao thống kê, động hình học và động lực học các sao. Xt. Sao; Thiên văn học; Thiên Hà.

THIÊN VĂN HỌC NGOÀI KHÍ QUYỂN

bộ môn thiên văn học nghiên cứu các đối tượng vũ trụ nhờ những thiết bị đặt trên tên lửa, vệ tinh nhân tạo, các trạm vũ trụ, kính viễn vọng vũ trụ và được đưa ra ngoài khí quyển Trái Đất để loại trừ ảnh hưởng của khí quyển, vd. kính thiên văn Habơn [gọi theo tên nhà vật lí thiên văn Hoa Kì Habơn (E. P. Hubble)]. TVHNKQ cho phép tiến hành các nghiên cứu thiên văn trong mọi dải sóng điện từ (trong đó có các dải Rơnghen và gamma). Xt. Thiên văn học.

THIÊN VĂN HỌC

ngành khoa học có từ lâu đời, nghiên cứu quy luật chuyển động, cấu tạo và sự phát triển của các vật thể vũ trụ, các hệ thống do chúng tạo thành cũng như của cả vũ trụ. Bao gồm: thiên văn cầu, thiên văn thực hành, thiên văn vật lí, cơ học thiên thể, thiên văn sao, thiên văn ngoài Thiên Hà, tinh nguyên học, vũ trụ học, vv. Phát sinh từ nhu cầu thực tiễn của con người như dự đoán các hiện tượng mùa, tính lịch, xác định vị trí trên mặt đất, vv. TVH hiện đại đã thay thế quan niệm vũ trụ địa tâm [của nhà khoa học cổ Hi Lạp Ptôlêmê (Ptolémée), thế kỉ 2] bằng hệ thống vũ trụ nhật tâm [của nhà thiên văn học người Ba Lan Kôpecnich (N. Kopernik), thế kỉ 16]; nó ra đời với sự khởi đầu dùng kính thiên văn [của nhà toán học, vật lí - thiên văn học người Italia Galilê (G. Galilée) đầu thế kỉ 17] và sự phát hiện ra định luật hấp dẫn vũ trụ [của nhà toán học, vật lí - thiên văn học người Anh Niutơn (I. Newton), thế kỉ 17]. Trong lịch sử TVH, thế kỉ 18 và 19 là thời kì tích luỹ các số liệu về hệ Mặt Trời, Thiên Hà và bản chất vật lí của các sao, của Mặt Trời, các hành tinh và các thiên thể khác. Sang thế kỉ 20, nhờ phát hiện được hệ Thiên Hà, bộ môn thiên văn học ngoài Thiên Hà mới bắt đầu hình thành và phát triển. Nghiên cứu phổ của các Thiên Hà cho phép nhà vật lí thiên văn Hoa Kì Habơn (E. P. Hubble) phát hiện (1929) ra sự giãn nở chung của vũ trụ mà nhà toán học và địa vật lí Xô Viết Fritman (A. A. Friedman) đã tiên đoán (1922) dựa trên thuyết hấp dẫn do nhà bác học người Đức Anhxtanh (A. Einstein) xây dựng năm 1915 - 16. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động có tính chất nhảy vọt đối với TVH nói chung và thiên văn vật lí nói riêng. Việc chế tạo được các kính thiên văn quang học và kính vô tuyến thiên văn có độ phân giải cao, việc sử dụng các máy siêu tính, vệ tinh nhân tạo của Trái Đất, các con tàu vũ trụ, kính viễn vọng Habơn ngoài vũ trụ để tiến hành quan sát thiên văn từ ngoài khí quyển, đã cho phép phát hiện hàng loạt các vật thể mới như các Thiên Hà vô tuyến, các quaza, punxa và các nguồn bức xạ Rơnghen, các hố đen, vv. Đã xây dựng được cơ sở của thuyết tiến hoá sao và thuyết nguồn gốc của hệ Mặt Trời. Thành tựu lớn nhất của thiên văn vật lí trong thế kỉ 20 là sự ra đời vũ trụ học tương đối tính, còn gọi là thuyết tiến hoá của toàn vũ trụ. Xt. Bich beng; Sao; Thiên Hà.

THIÊN VĂN HÀNG HẢI

bộ môn thiên văn thực hành phục vụ cho ngành hàng hải. Nghiên cứu những phương pháp xác định vị trí tàu trên biển tại một thời điểm nào đấy theo các thiên thể hoặc các vệ tinh hàng hải nhân tạo. Ở thế kỉ 15, người ta đã dùng kính kinh vĩ, kính lục phân... để quan sát. Về sau các số liệu của Mặt Trời và các hành tinh đều được tính sẵn trước. Vào nửa sau thế kỉ 18, kinh độ đã được tính với độ chính xác rất cao; đến năm 1843, kinh độ được tính theo phương pháp các vòng tròn đường cao bằng nhau của nhà hàng hải Hoa Kì Sommơ (T. Sommer). Ngày nay các hệ định vị toàn cầu GPS, vệ tinh hàng hải nhân tạo được dùng rộng rãi để dẫn đường và xác định vị trí các con tàu trên đại dương, đặc biệt trong các trường hợp cần cứu hộ. Xt. Kính lục phân.

THIÊN VĂN ĐO LƯỜNG

phân ngành của thiên văn học, nghiên cứu vị trí tương hỗ giữa các thiên thể trong không gian, sự thay đổi vị trí thiên thể theo thời gian, chuyển động quay của Trái Đất, các hằng số thiên văn, hình thể bên ngoài của thiên thể. Một số kết quả của TVĐL được ứng dụng nhằm xác định thang giờ chính xác, chuyển động cực, các hằng số thiên văn, toạ độ cầu của hàng nghìn thiên thể, toạ độ thiên văn của các điểm trên mặt đất, toạ độ địa lí trên Mặt Trăng, trên các hành tinh, Hoả Tinh, Thuỷ Tinh... tính toán dự báo nhật thực và nguyệt thực, vv. Trong thời đại ngày nay, TVĐL còn có thêm nhiệm vụ quan sát, định hướng cho các vệ tinh nhân tạo và các con tàu vũ trụ, vv. Xt. Thiên cầu; Nhật thực và nguyệt thực.

THIÊN THỂ

các vật thể mà ở đó tập trung phần quan trọng nhất của vũ trụ, vd. các sao, Tinh Vân, tập đoàn sao, Thiên Hà, vv. Xt. Vũ trụ.

THIÊN THẠCH SẮT

x. Thiên thạch.

THIÊN THẠCH ĐÁ

x. Thiên thạch.

THIÊN THẠCH

những vật thể nhỏ thuộc hệ Mặt Trời, rơi từ khoảng không giữa các hành tinh vào Trái Đất. Tuỳ theo thành phần cấu tạo, phân biệt: TT sắt - chủ yếu là sắt niken (5 - 30% Ni) và một lượng nhỏ các chất khác (Mg, Si, Ca, vv.); TT đá - ít gặp trên Trái Đất, giàu oxit sắt, oxit silic, oxit magie. Khoảng 85% các TT đá chứa các chonđra (các hạt hình cầu có kích thước từ rất bé đến to bằng hạt đỗ) nên còn gọi là chonđrit. Khi rơi trong khí quyển, do ma sát, các TT hầu như bị cháy hết; TT lớn nhất được tìm thấy (1920) ở Gôba, Tây Nam Châu Phi, nặng gần 60 tấn. Xt. Sao băng.

Thiên thạch

Tảng thiên thạch sắt (82,4% sắt) nặng 60 tấn tại Gôba, Tây Phi