Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THÙNG TRỤC

thùng để chuyên chở đất đá, quặng, thiết bị hay người, dùng trục tải kéo lên xuống ở giếng đứng hay giếng nghiêng. Còn dùng trong việc sửa chữa hỏng hóc ở giếng (trường hợp vì điều kiện giếng chật hẹp không đủ chỗ để đặt một hệ thống trục tải riêng). Dung tích TT từ 0,5 đến 2 m3.

Tìm được 1625 bản ghi

THÙNG TRỤC

thùng để chuyên chở đất đá, quặng, thiết bị hay người, dùng trục tải kéo lên xuống ở giếng đứng hay giếng nghiêng. Còn dùng trong việc sửa chữa hỏng hóc ở giếng (trường hợp vì điều kiện giếng chật hẹp không đủ chỗ để đặt một hệ thống trục tải riêng). Dung tích TT từ 0,5 đến 2 m3.

THUNG LŨNG KIẾN TẠO

thung lũng hình thành do chuyển động kiến tạo ở phần vỏ Trái Đất như uốn nếp, đứt gãy, vv.

THUNG LŨNG

dạng địa hình âm kéo dài do dòng nước chảy tự đào trên bề mặt địa hình. Mặt cắt ngang của TL thường có dạng chữ V ở núi dốc, dạng chữ U khi dốc thoải, dạng hẻm vực tức canhon. Trên nền đá đồng nhất, mặt cắt dọc là một đường cong phần nguồn tiếp tuyến với phương thẳng đứng, phần cơ sở xâm thực tiếp tuyến với phương nằm ngang. Ở đồng bằng TL thường có dạng uốn khúc quanh co.

THÙNG KÍP

thùng có dạng hình hộp, đáy vát nhọn có bộ phận có thể đóng mở để rót quặng, dùng để trục các vật liệu rời vào lò cao, lò nấu gang, đưa than vào nồi hơi, vv. Ở mỏ, TK là phương tiện để chở quặng từ dưới mỏ lên mặt đất nhờ trục tải kéo; ở mỏ giếng nghiêng, TK được lắp bánh xe chạy trên đường ray.

THÙNG CŨI

phương tiện (thường là hộp vuông hoặc chữ nhật bằng kim loại, có cửa ra vào) để chở người, hoặc chở goòng đất đá, khoáng sản từ dưới hầm lò lên mặt đất nhờ trục tải để kéo thùng lên xuống. Trong trường hợp TC chở goòng thì dưới đáy có đường ray để đưa goòng ra cửa.

THỜI KÌ GIAN BĂNG

khoảng thời gian nằm giữa hai thời kì băng hà trong kỉ Thứ tư. Trong thời kì này, lớp băng phủ ở vĩ độ ôn đới tan đi, khí hậu ấm lên và xuất hiện những sinh vật ưa khí hậu nóng ấm.

THỜI KÌ BĂNG HÀ

thời kì cuối của thế Plêittoxen, cách đây khoảng 250 nghìn năm; có những thời gian rất lạnh xen kẽ với những thời gian ấm áp; băng phủ kín 30% Bán Cầu Bắc (Châu Âu và Bắc Mĩ), lớp băng dày có nơi tới 3 km; nước đóng băng nhiều đến mức làm nước biển hạ xuống 85 - 120 m so với ngày nay. Kết quả là hình thành những dải đất nối liền Châu Á và Bắc Mĩ, bán đảo Trung - Ấn nối liền với quần đảo Xôngđơ (Sonde; Inđônêxia)... tạo điều kiện cho sự di cư các thực vật, động vật ở cạn, ngăn cản sự trao đổi của hệ thực vật, động vật ở biển trước đó vốn thông thương với nhau. Nguyên nhân là do sự dao động độ nghiêng của trục Trái Đất từ 21o5 tới 24o5, sự biến đổi quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời, khiến Trái Đất ra rất xa Mặt Trời. Theo Milankôvich (M. Milankovich), sự thay đổi quỹ đạo theo chu kì có ba kiểu:

1) Thay đổi độ nghiêng của trục Trái Đất với chu kì khoảng 41 nghìn năm.

2) Thay đổi hình dạng quỹ đạo Trái Đất theo chu kì 100 nghìn năm.

3) Thay đổi tuế sai với chu kì 26 nghìn năm. Ngoài ra, vị trí của các lục địa trong kiến tạo mảng làm thay đổi dòng chảy đại dương cũng có thể ảnh hưởng tới khí hậu.

 

THỜI ĐỒ ĐÁ MỚI

x. Thời đại đá mới.

THỜI ĐẠI SINH KHOÁNG

khoảng thời gian địa chất có sự phát triển quá trình tạo quặng, tương ứng với một chu kì kiến tạo - macma (thời đại tạo núi). Khái niệm này được Đơlônay (R. Delaunay) dùng từ 1911 đến 1913 để chỉ một thời kì khoáng hoá được tăng cường mạnh mẽ. Lingren (W. Lindgren; 1919), Tơnơ (G. Turner; 1955) gọi TĐSK là thời kì lịch sử địa chất có sự xuất hiện sinh khoáng rất rõ rệt. Thời gian của một TĐSK rất dài nhưng không thể xác định rành rọt được. Có nhiều cách phân chia các TĐSK. Cách phân chia mang tính tổng thể, bao gồm 5 TĐSK: Tiền Cambri, Calêđôni, Hecxini, Kimmeri và Anpi. Tỉ mỉ hơn, phân ra 9 TĐSK: Ackêôzôi, Prôtêrôzôi sớm, Prôtêrôzôi trung, Prôtêrôzôi muộn, Riphei, Calêđôni, Hecxini, Kimmeri và Anpi.

THỜI ĐẠI ĐỊA HOÁ

giai đoạn lịch sử địa chất được đặc trưng bởi sự tích tụ trong đá một loại nguyên tố hoặc nhóm nguyên tố hoá học nào đó, chủ yếu hình thành các mỏ của những nguyên tố đó với loại hình mỏ và thành phần nhất định (vd. trong thời đại Tiền Cambri, các hệ tầng quăczit sắt phát triển rất rộng rãi).