Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THUỐC DẪN DỤ SÂU

x. Pheromon.

Tìm được 2386 bản ghi

THUỐC CHẬM

thuốc thú y dưới dạng thuốc tiêm hoặc uống đã được thêm một chất bổ trợ làm cho tác dụng của thuốc chậm lại và kéo dài, bằng cách hạn chế cơ chế hấp thụ thuốc hoặc làm chậm cơ chế thải thuốc ra ngoài (trong thú y, thường dùng kháng sinh chậm như penicillin chậm). TC giúp cho việc điều trị được thuận tiện hơn và tiết kiệm được thuốc trong trường hợp phải điều trị kéo dài. Một số loại thuốc sẵn có tác dụng chậm và đồng thời cũng có hiệu quả kéo dài.

THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

(cg. thuốc trừ địch hại), các hoá chất dùng để diệt trừ sâu, bệnh, cỏ dại hại cây trồng. TBVTV được chia thành các nhóm: trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại, trừ chuột, trừ nhện đỏ, trừ giun tròn, ốc sên, vv. Nói chung, mỗi loại thuốc chỉ có hiệu lực đối với một nhóm địch hại, dùng không đúng thuốc sẽ không thu được kết quả và còn lãng phí, có thể gây ra hậu quả tai hại. TBVTV được dùng trong sản xuất là các dạng thành phẩm gồm các hoạt chất và các chất phù trợ bổ sung khác. Các loại thuốc có tên gọi, thành phần, đặc điểm, cách bảo quản và sử dụng khác nhau. Thông dụng trong sản xuất là các dạng thành phẩm: 1) Thuốc sữa: dạng lỏng, có màu sắc khác nhau, khi hoà vào nước có màu trắng như sữa. Thành phần thuốc gồm chất độc (chất hữu hiệu, chất hoạt động), chất dung môi, chất gây nhũ tương và một số chất khác giúp cho thuốc dễ phân tán trong nước, bám dính tốt trên lá cây. Thuốc sữa có hiệu lực trừ địch hại cao, dễ xâm nhập vào cơ thể, nhưng trong nhiều trường hợp cũng dễ gây độc cho người, gia súc và cây trồng. 2) Thuốc bột thấm nước: dạng bột mịn, có màu sắc khác nhau, gồm chất độc, chất làm ướt và chất độn. Thuốc bột thấm nước không tan trong nước mà tạo thành huyền phù, gồm nhiều hạt phân bố trong nước, có hiệu lực trừ địch hại. 3) Thuốc bột: dạng bột mịn, có màu sắc khác nhau; hàm lượng chất độc thường thấp nên không dùng phun với nước mà phun rắc thẳng lên cây hay bón vào đất. Ngoài những dạng thành phẩm trên, còn một số dạng thuốc khác như thuốc hạt, thuốc viên, thuốc nhão, thuốc kết tinh.

THUỐC BẢO QUẢN GỖ

các chế phẩm hoá học dùng để bảo quản gỗ (cả tre, nứa) chống sự xâm nhập phá hoại của các loại sinh vật hại gỗ và các điều kiện bất lợi của môi trường. TBQG được pha chế theo công dụng với nhiều tên thương phẩm khác nhau như creozot, NaF, vv. Tất cả các loại TBQG đều là những chất độc hại, nên khi sử dụng bảo quản phải tuân thủ triệt để các quy tắc bảo hộ lao động.

THÚNG, MỦNG, RỔ, RÁ

các đồ vật đan bằng nan tre, hình bán cầu ngắn, có cạp tròn, cứng, lòng sâu, dùng để chứa đựng và vận chuyển nông sản, vật tư nông nghiệp. Tuỳ theo loại nan, cách đan, kích thước và hình dáng có các tên gọi khác nhau. Thúng: đồ vật đan bằng nan tre mỏng, khít nhau, có cạp cứng, lòng sâu, đường kính miệng thúng khoảng 40 cm, dùng để đựng và vận chuyển thóc, gạo, ngô, đỗ; thúng quét sơn dùng đựng nước. Mủng: có kích thước nhỏ và nhẹ hơn thúng. Rổ: đồ vật đan bằng nan tre có mắt hình vuông thưa, dùng để đựng hoặc rửa rau, bèo. Rá: đồ vật đan bằng nan tre nhỏ, dày, đan khít nhau, dùng để vo gạo. Hiện nay, tuy có những dụng cụ bao bì mới như bao tải đay, túi nhựa, rổ rá nhôm, nhựa nhưng các công cụ cổ truyền như thúng, mủng, rổ, rá bằng nan tre vẫn còn được sử dụng ở Việt Nam.

THÙNG QUAY MẬT

dụng cụ lấy mật ong ra khỏi lỗ tổ của cầu ong mà không phải phá bỏ cầu ong. Sáng kiến này ra đời khoảng 1851 - 71. TQM là một thùng bằng thép không gỉ hoặc bằng tôn, bằng nhôm, giữa có trục xoay bằng ổ bi, chuyển động bằng tay quay hoặc bằng điện, mỗi lần có thể đặt 2 hoặc nhiều cầu mật đã cắt lớp sáp vít nắp; mật văng ra khỏi lỗ tổ do lực li tâm.


Thùng quay mật

THÙNG ONG

dụng cụ nuôi ong, là nơi ong mật cư trú, sinh đẻ, sản xuất và chế biến sản phẩm ong. Trước kia, người ta nuôi ong trong đõ hoặc tổ làm bằng thân cây gỗ rỗng, hoặc bện bằng rơm rạ, hoặc đắp bằng đất; ong xây cầu vào thành đõ, thành tổ nên khi thu hoạch sản phẩm phải giết ong non và xua ong trưởng thành ra khỏi tổ.

Trong nghề nuôi ong hiện đại đã sử dụng TO có cầu xê dịch được. Khoảng cách giữa các cầu ong thường là 7 - 8 mm, nếu để cầu ong sít nhau hơn, ong sẽ bít khe lại; nếu để rộng hơn, ong sẽ làm thêm cầu phụ (cg. cầu lưỡi mèo). Kiểu thùng Langxtrơt tiêu chuẩn có 10 cầu, kích thước 51 x 37 x 24 cm. Nhưng trong thực tế nghề ong hiện nay có rất nhiều kiểu thùng với kích thước khác nhau và có cầu xê dịch được. Thùng và cầu của một cơ sở nuôi ong thường theo kích thước đồng nhất để dễ sử dụng và thuận tiện cho việc chăm sóc, di chuyển và khai thác sản phẩm. Nếu là thùng gỗ, nên dùng loại gỗ nhẹ, không dễ nứt, hoặc vặn vẹo, không bị sâu mọt, gỗ liền tấm hoặc ghép âm dương cho kín; sơn hoặc lợp tôn, sơn nhiều màu khác nhau còn giúp cho ong định hướng dễ dàng hơn, tránh được tình trạng ong vào nhầm thùng.

 

Thùng ong

A. Thùng ong có kẽ hổng; B. Thùng ong;
C. Cấu tạo thùng ong:

1. Lưới tháo phấn; 2. Máng hứng phấn;
3. Khung tầng; 4. Nền sáp

THÙNG KẾ

thùng ong phụ không có đáy, chồng lên thùng chính khi đàn ong phát triển đông quân, để có thêm chỗ cho ong thợ chứa mật và phấn. Kích thước của TK bằng kích thước hoặc bằng 1/2 kích thước của thùng chính, do đó cầu ong của TK cũng bằng cầu thường hoặc bằng 1/2 cầu thường (gọi là cầu nửa hay cầu lửng). Giữa thùng chính và TK thường có lưới ngăn chúa, có lỗ để ong thợ qua được mà ong chúa không qua được. Như vậy, ong chúa chỉ đẻ trứng ở thùng chính. TK chỉ để chứa mật và phấn. Chỉ thu hoạch mật trên TK khi cầu mật đã bít nắp (mật có hàm lượng nước thấp, trong, ít tạp chất; không ảnh hưởng đến trứng và nhộng). Trong vụ khai thác mật, tuỳ mức độ phát triển của đàn ong và tình hình lấy mật của ong mà đặt thêm một hoặc nhiều TK. Sau vụ thu hoạch mật, nhất là trong mùa đông, cần rút bỏ TK.

THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

(tên cũ: thuế nông nghiệp), thuế đất và hoa lợi trên đất, mà người sử dụng đất nông nghiệp phải nộp cho nhà nước theo luật định. Mỗi năm thu từ 1 đến 2 lần theo vụ thu hoạch chính của từng loại cây trồng ở từng địa phương. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp với nhà nước.

TSDĐNN khẳng định tính pháp lí về đất đai là toàn dân sử dụng đất, nhưng nhà nước thống nhất quản lí. Vì vậy, nhà nước luôn khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất trồng rừng, vv. TSDĐNN căn cứ vào diện tích, hạng đất và định suất thuế. Định suất thuế một năm tính bằng kilôgam thóc trên 1 hecta, nhưng thường thu bằng tiền theo thời giá, của từng hạng đất (chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiện tưới tiêu) và từng loại cây trồng hằng năm, hay lâu năm. Để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp trên những vùng đồi núi trọc, đầm lầy, bãi bồi, đất ở vùng cao miền núi... đưa vào sản xuất, để giúp đỡ các gia đình chính sách, để hỗ trợ những trường hợp thiên tai, địch hoạ làm thiệt hại mùa màng, nhà nước còn có quy định miễn thuế sử dụng đất từ một cho đến nhiều năm; giảm thuế từ 10% đến 100%, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

THUẾ NÔNG NGHIỆP

x. Thuế sử dụng đất nông nghiệp.