Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TĨNH HỌC

phần của cơ học, trong đó nghiên cứu lí thuyết thu gọn hệ lực và các điều kiện cân bằng của các vật rắn dưới tác dụng của các lực. Ngoài TH của vật rắn còn có TH của các chất lỏng (thuỷ tĩnh học) và TH của các chất khí (khí tĩnh học).


 

Tìm được 466 bản ghi

TRỌNG TÂM CỦA VẬT RẮN

điểm đặt của hợp lực của các lực hút của Trái Đất lên các phần tử của vật rắn (hệ lực song song cùng chiều) khi nó ở gần Trái Đất. TT có vị trí không đổi đối với vật rắn. Khi vật rắn đồng chất có hoặc một mặt phẳng đối xứng hoặc một trục đối xứng hoặc một tâm đối xứng thì TT của nó nằm hoặc trên mặt phẳng đối xứng hoặc trên trục đối xứng hoặc tại tâm đối xứng. Khi vật rắn ở vị trí nằm cân bằng trong trọng trường mà TT của nó ở vị trí thấp nhất thì vị trí cân bằng sẽ bền vững, TT của vật sẽ trùng với vị trí khối tâm. Khi vật rắn di chuyển trong trọng trường thì công của trọng lực sẽ bằng tích giữa số đo trọng lực và cao độ di chuyển của TT. Công này sẽ dương (tức vật sản ra công) khi vật được hạ xuống, hoặc âm (tức vật đòi hỏi cung cấp công) khi vật được nâng lên. Xt. Khối tâm.

TRỌNG LƯỢNG

   1. (), số đo cường độ của trọng lực (x. Trọng lực). Trọng lực là một đại lượng vectơ còn TL là môđun của trọng lực tác động lên vật ấy, nghĩa là trong đó m là khối lượng của vật; g - trị số gia tốc trường hấp dẫn của Trái Đất. Đơn vị của TL là niutơn (N) và các bội số của nó.

TL cũng được hiểu là lực do vật treo tác dụng lên dây treo hoặc áp lực của vật lên giá đỡ khi nó chịu sức hút của Trái Đất.

2. (), từ thường dùng chỉ "khối lượng" của một vật, đo bởi trọng lực tác dụng lên nó, phụ thuộc vị trí quan sát. Do đó, để đo chính xác khối lượng, cần có các quả cân mẫu chuẩn. Xt. Trọng lực; Khối lượng.

 

 

TRỌNG LỰC

lực tác động lên vật do trường hấp dẫn của Trái Đất (cũng gọi là trọng trường) làm nó bị hút về tâm của Trái Đất, được xác định bởi công thức  ; trong đó là TL của vật, m - khối lượng của vật, - vectơ gia tốc của trường hấp dẫn của Trái Đất tại vị trí quan sát (xt. Trường hấp dẫn; Gia tốc).

Vd. nếu "đặt" chất điểm trong khoảng không gian gần bề mặt Trái Đất (tức trong trọng trường), do tác dụng của TL, chất điểm sẽ chuyển động về hướng mặt đất với gia tốc không đổi là gia tốc của trường hấp dẫn của Trái Đất tại vị trí quan sát (được gọi là gia tốc trọng trường); chuyển động như vậy gọi là chuyển động rơi tự do.

TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT

x. Ứng suất.

TRẠNG THÁI GIỚI HẠN

trong kết cấu xây dựng, trạng thái mà nếu vượt quá nó thì kết cấu không sử dụng được. Phân biệt: TTGH về cường độ (kết cấu bị đổ vỡ); TTGH về biến dạng (kết cấu bị biến dạng lớn đến mức nào đó); TTGH về khe nứt (bị nứt hoặc bề rộng khe nứt lớn tới một trị số nào đó). Phương pháp tính toán kết cấu TTGH là phương pháp mới nhất đang được dùng hiện nay, được giáo sư Lôlâytơ (A. F. Lolejt; 1868 - 1933) đặt nền móng từ 1931 nhưng mãi đến năm 1953 lần đầu tiên được đưa vào tiêu chuẩn thiết kế kết cấu. Nội dung cơ bản của phương pháp này là cho phép kết cấu làm việc tới TTGH. Nhờ xét đến một cách chi tiết hơn các yếu tố ảnh hưởng đến độ an toàn của kết cấu, phương pháp tính theo TTGH cho kết quả sát với sự làm việc thực của kết cấu và đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.

TỔNG HỢP CƠ CẤU

xác định cơ cấu thoả mãn những yêu cầu cho trước về cấu trúc, động hình học hoặc/và động lực học (nghĩa rộng). Theo nghĩa công nghệ, bài toán này thường được gọi là thiết kế cơ cấu.

Trong khi bài toán phân tích cơ cấu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, động hình học hay động lực học của một cơ cấu cho trước, có lời giải xác định... thì bài toán ngược THCC thường có nhiều phương án. Việc lựa chọn phương án thích hợp nhất phụ thuộc phần lớn vào điều kiện công nghệ cụ thể.

THCC thường được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: theo yêu cầu cơ học, có tổng hợp cấu trúc, tổng hợp động hình học và tổng hợp động lực học; theo phương pháp giải, có tổng hợp chính xác và tổng hợp gần đúng; theo loại cơ cấu, có THCC phẳng và THCC không gian, hoặc THCC toàn khớp và THCC có khớp cao.

Trong những năm gần đây, lĩnh vực THCC không gian nhiều bậc tự do rất được quan tâm do nhu cầu ngày càng tăng về ứng dụng rôbôt trong sản xuất và dịch vụ. Rôbôt điều khiển thích nghi và máy công cụ điều khiển số đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của ngành công nghệ tích hợp mới - ngành cơ điện tử. Cũng do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, máy vi tính và phương pháp số trong cơ học, bài toán THCC ngày nay thường được đặt ra dưới dạng thiết kế tối ưu đa mục tiêu, trong đó mô hình cơ cấu không chỉ là hệ vật rắn tuyệt đối mà còn là hệ vật rắn biến dạng với nhiều đặc trưng cơ học vật liệu hiện thực.

TOẠ ĐỘ SUY RỘNG

 những thông số độc lập qi (i = 1, 2, ...) đủ để xác định duy nhất vị trí cơ hệ. Nếu các thông số đó độc lập, chúng được gọi là TĐSR đủ (i = 1, 2, ..., n), ngược lại là TĐSR thừa hoặc dư (i = 1, 2, ..., m > n). Giữa các TĐSR thừa tồn tại các hệ thức toán học được gọi là các phương trình liên kết. Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng TĐSR thừa giúp cho việc khảo sát được tiện lợi, vd. trong động học, động lực học các chuỗi đóng. Đối với cơ hệ chịu liên kết hình học, số TĐSR độc lập n bằng số bậc tự do k của cơ hệ (n = k < m)="" và="" số="" phương="" trình="" mô="" tả="" chuyển="" động="" cơ="" hệ="" qua="" tđsr="" đủ="" là="" ít="" nhất,="" bằng="" số="" tđsr="" đủ.="" xt.="">Lagrăng (Phương trình loại II).

TĨNH TUYỆT ĐỐI, TĨNH TƯƠNG ĐỐI.

khi xét mô hình chất lỏng đứng yên so với hệ toạ độ gắn liền với Trái Đất ta có bài toán tĩnh tuyệt đối. Khi đó áp suất tĩnh tại một điểm được tính theo công thức:

p = po + h (*)

trong đó po là áp suất mặt thoáng, ∂  = rg là trọng lượng riêng (r - khối lượng riêng; g - gia tốc trọng trường); h - độ cao cột nước của điểm đang xét. Nếu bình chất lỏng chuyển động thẳng có gia tốc a = const hoặc bình hình trụ quay xung quanh trục của nó với vận tốc góc w = const thì chất lỏng chuyển động đối với Trái Đất nhưng đứng yên đối với bình, ta sẽ có các bài toán tĩnh tương đối. Mặt thoáng tương đối của chất lỏng bao giờ cũng có dạng sao cho hợp lực của các lực tác dụng lên phần tử chất lỏng - trừ đi áp lực do p - là có phương vuông góc với nguyên tố mặt ấy. Vì vậy trong trường hợp bình tịnh tiến có gia tốc a, mặt thoáng là mặt phẳng nghiêng một góc a = arctg(a/g). Trường hợp bình quay thì mặt thoáng có dạng parabôlôit tròn xoay phụ thuộc vào w. Công thức tính áp suất ở một điểm có thể có dạng phức tạp hơn (*).


 

TĨNH HỌC

phần của cơ học, trong đó nghiên cứu lí thuyết thu gọn hệ lực và các điều kiện cân bằng của các vật rắn dưới tác dụng của các lực. Ngoài TH của vật rắn còn có TH của các chất lỏng (thuỷ tĩnh học) và TH của các chất khí (khí tĩnh học).