Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THI NHỊP

hình thức âm nhạc mở đầu một buổi diễn chèo sân đình: sau hồi trống cái, hoà lên cùng một lúc với tiết tấu dồn dập, tất cả các loại nhạc cụ gõ như: trống cái, trống trung, trống đế, trống cơm, trống bộc, thanh la, , phách, xênh tiền... mục đích báo cho mọi người biết buổi diễn bắt đầu. Trong khi TN, hai hề mồi (cầm mồi lửa) hoặc hề gậy ra múa "dẹp đám", dẹp để khán giả khỏi lấn vào nơi biểu diễn là một khoảng đất trống, ở giữa trải một chiếc chiếu gọi là chiếu chèo.

Tìm được 303 bản ghi

TÚ HUẦN

(cg. lục hồn nhung), điệu múa trong trò múa hát dân gian Xuân Phả.

TRỐNG BỒNG

trống được buộc bằng dải lụa đeo ngang vai, đặt trước bụng để vừa đi đường vừa đánh. Cùng loại với trống cơm, nhưng do sử dụng và cấu tạo có một vài chi tiết khác nhau nên thành hai tên gọi. TB không dính miếng cơm trên mặt trống, thân hơi phình ở giữa, nhỏ hơn trống cơm, có nơi vẽ rồng, mây trang trí. Mặt trống được căng và cố định bằng chốt tre, âm thanh hai mặt có khoảng cách quãng 5, âm sắc không trầm như trống cơm. Được dùng trong các dàn nhạc bát âm cử hành trong rước. Thường do 2 cô gái (có khi 2 chàng trai giả gái) môi son má phấn, mặc quần áo sặc sỡ vừa đi vừa đánh trống, múa những động tác mềm mại, uyển chuyển theo điệu nhạc trông rất ngộ nghĩnh. TB là nhạc cụ quan trọng trong múa dân gian gọi là "trống bồng mõ lộn".

TRÒ XUÂN PHẢ

trò diễn ở làng Xuân Phả, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng 2 âm lịch để cúng tiễn vị thần có tên hiệu là Đại Hải Long Vương. Theo truyền thuyết, trò này có thời Đinh: vua Đinh được thần giúp đỡ, chiến thắng 12 sứ quân, nên cho dân làng này thờ, hàng năm cúng tế. Vua lại truyền cho các "nước" láng giềng cử những đoàn ca múa đến biểu diễn cho thêm phần long trọng. Những điệu múa ấy gợi nhớ đến điệu múa "Chư hầu lai triều", cùng với điệu múa "Bình Ngô phá trận", dưới triều Lê Thánh Tông. Một số điệu múa có những động tác, trang phục độc đáo, xuất xứ muộn hơn. TXP được tổ chức trên bãi của làng, có các nghi thức cúng lễ như ở nhiều đám tế tự khác. Mở đầu, có cuộc thi chạy giải. Cúng thần xong, có biểu diễn năm điệu múa, địa phương còn gọi là trò: trò Hoa Lang, Xiêm Thành, Ải Lao, Ngô Quốc, Tú Thuần. Hầu hết các trò đều có múa, nhiều động tác ít gặp trong các điệu vũ dân gian quen thuộc, có sử dụng mặt nạ và lời ca không liên quan gì đến nội dung múa.


TRÒ THUỶ

trò diễn trong hệ thống hát múa ở xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đoàn biểu diễn gồm 16 người, cầm 16 mái chèo, hát múa. Lời ca có 6 đoạn, phù hợp với động tác múa. Nhạc có trống và chiêng. Phục trang thống nhất: quần trắng, áo đỏ, thắt lưng xanh. Các đoạn trong TT gồm: mở đầu, giáo thuyền, khai chèo, đi chèo, giậm mái, chèo bay. Lời ca và điệu múa nhằm ca ngợi công lao của Cao Hoàng, mừng sự thịnh vượng của đất nước. Động tác mô phỏng việc chèo thuyền. Trò Bôn cũng có trò diễn này, gọi là Thuỷ Phường, tổ chức quy mô hơn, có 19 người, gồm 2 cai đội, 2 biện, 1 cái (là nữ), 12 con chèo, 1 người đánh sênh. Có thuyết nói trò Thuỷ Phường trình diễn để tế Lê Lợi, có thuyết nói là Lê Ngọc.

TRÒ NGÔ

trò diễn có từ đời nhà Trần. Lê Quý Đôn trong sách "Kiến văn tiểu lục" ghi: "Bắc vũ gọi là trò thằng Ngô". Trò diễn dân gian nhưng đã đưa vào điều lệ, chép vào Lễ bộ chương. Có thể phân biệt thành 4 nhóm. 1) Cảnh "Thằng Ngô, con đĩ": trò diễn ở các đám tang có hai vai gây cười là thằng Ngô và con đĩ. Vai trò của hai nhân vật này chỉ để mua vui, thu hút người xem, rẽ đường cho xe tang đi. 2) Trò Ngô, trò khách: những tiết mục nằm trong các hệ thống trò, như trò Trám, trò Chụt, trò Triềng, trò Bách nghệ khôi hài. Nhân vật đóng giả người phương Bắc, sang Việt Nam với mục đích thầm lén hay lộ liễu: tìm của cải chôn, dò la tình hình, kiếm ăn, vv. Có các vai: chú khách bán kẹo, bán thuốc, thầy địa lí, vv. Kèm theo những vai này là những cô gái lẳng lơ và lũ trẻ vô tổ chức. 3) Điệu múa nghênh tiếp. Ở hệ thống trò Xuân Phả, trò này được gọi là trò Ngô quốc. Có thể là dấu vết của điệu múa "Chư hầu lai triều" xuất hiện từ đời Lê Thái Tông (thế kỉ 15). Nước Ngô (hay một bộ tộc người Ngô) đưa tiết mục văn nghệ này đến bái yết vua Nam. Ở hệ thống trò Bôn (Thanh Hoá), trò này gọi là trò Ngô phường, gần như diễn tả một cuộc đón tiếp người nước ngoài đến cúng lễ. Nhân vật là chánh sứ, tuỳ sứ các triều đại Trung Quốc. 4) Màn hội tập hay hội trận. Gặp ở các ngày hội lễ lịch sử: hội Gióng, hội đền vua Lê, vv. Thường diễn thành một cuộc giao tranh diễn tả cảnh quân ta và quân Ngô đánh nhau. Địch thua bỏ chạy, quân ta đuổi quân địch, dồn trận lại và quay về xếp chữ "thiên hạ thái bình".

TƠRIÔ (TRIO)

1. (nhạc), 1) Tập thể biểu diễn gồm 3 người (3 nhạc công: gọi là tam tấu; 3 ca sĩ - tam ca). Nhạc cụ khi biểu diễn gồm 3 loại đơn chủng (toàn đàn dây: viôlông, viôla, viôlôngxen) và loại hỗn hợp (đàn dây với kèn hơi hoặc pianô). Hình thức thông dụng nhất là viôlông, viôlôngxen, pianô - được gọi là T với pianô. 2) Tác phẩm âm nhạc viết cho 3 nhạc cụ hoặc 3 giọng hát. Cùng với Quatuyo đàn dây, T khí nhạc (chủ yếu với pianô) thuộc loại phổ biến nhất của âm nhạc thính phòng. 3) Bộ phận giữa của một số thể loại khí nhạc như vũ khúc, hành khúc, xkeczô... có tính chất âm nhạc và điệu tính tương phản với 2 phần ngoài. Tên gọi T có nguồn gốc từ thế kỉ 17, khi biểu diễn một tác phẩm dàn nhạc có hình thức 3 đoạn, muốn tạo nên sự phân biệt với 2 phần ngoài của dàn nhạc, người ta chỉ sử dụng 3 nhạc công diễn tấu phần giữa.

2. (múa), điệu múa ba người, có thể là một tiết mục múa ngắn, hoàn chỉnh, có thể là một đoạn múa trong vở balê và có thể là một phần trong các vở balê cổ điển, phần lớn T mang tính chất dư hứng. Ngày nay trong kịch múa, những điệu múa ba người được xây dựng tự do hơn, phụ thuộc vào tính cách từng nhân vật và sự phát triển hành động của vở diễn, vd. múa ba người: Mêkmênê Banu, Surin và Pherkhat trong kịch múa "Câu chuyện thần thoại về tình yêu", hoặc múa Đanhila, Katerina và bà chúa núi đồng trong vở "Bông hoa đá".

 

THI NHỊP

hình thức âm nhạc mở đầu một buổi diễn chèo sân đình: sau hồi trống cái, hoà lên cùng một lúc với tiết tấu dồn dập, tất cả các loại nhạc cụ gõ như: trống cái, trống trung, trống đế, trống cơm, trống bộc, thanh la, , phách, xênh tiền... mục đích báo cho mọi người biết buổi diễn bắt đầu. Trong khi TN, hai hề mồi (cầm mồi lửa) hoặc hề gậy ra múa "dẹp đám", dẹp để khán giả khỏi lấn vào nơi biểu diễn là một khoảng đất trống, ở giữa trải một chiếc chiếu gọi là chiếu chèo.

"TRÁP TRẦU"

điệu múa trong đám cưới của dân tộc Khơ Me Nam Bộ, loại múa đơn nam. Máha (ông mối) hai tay nâng hai tráp phủ vải điều múa, sau đó bỏ vải, mở nắp tráp, trong tráp có trầu cau, tiếp tục múa. Múa "TT" nói lên lời chúc đôi trai gái mãi mãi hạnh phúc bên nhau như trầu với cau.

"TƠ NON"

 

điệu múa trong lễ cúng tên của dân tộc Ba Na, do gia đình tổ chức. Múa "TN" gồm: 4 vị thần do 4 già làng đóng, mình khoác vải choàng, đóng khố hoa, đầu chít khăn màu, có cắm lông công dài, nhảy múa những động tác dân gian khoẻ, đẹp, độc đáo xung quanh cột nêu để cầu mong thần linh phù hộ, che chở và ban phúc cho con cái trong gia đình.

"THIÊN CẨU"

 

điệu múa cung đình Chiêm Thành, loại múa tập thể nữ đồng điệu. Các cô gái đội trên đầu một chùm lọ độc bình bằng sứ được kết lại thành hình cây tháp, hai bên vai cắm hai chùm đèn bằng giấy trong thắp nến, vừa múa những động tác cung đình Chiêm Thành vừa hát theo nhịp trống, cồng, thanh la, đàn, sáo. Các cô gái đi, đứng, uốn lượn, quỳ một chân, có lúc quay ngoắt lại, đặc biệt là quỳ hai chân uốn ngửa người, nằm ép xuống sàn mà chùm lọ độc bình không đổ, chùm đèn không tắt.