Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THÔNG CÁO KHẨN CẤP CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (10.3.1939)

thông cáo khẩn cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các đảng bộ nêu rõ việc thực dân Pháp ở Đông Dương khủng bố phong trào quần chúng từ Nam chí Bắc và báo "Dân chúng", cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương bị chúng bắt hết nhân viên và tịch thu hết tài liệu. Thông cáo nêu lên các khẩu hiệu đấu tranh trong các cuộc mít tinh là:1) Chống khủng bố, đòi lập tức thả hết nhân viên toà soạn "Dân chúng". 2) Đòi ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện sinh hoạt cho dân chúng và mở rộng chế độ tuyển cử. 3) Đòi tổng ân xá chính trị phạm, thủ tiêu án biệt xứ và quản thúc. Trung ương căn dặn các đảng bộ "cần tránh những khẩu hiệu "tả", đề phòng sự khiêu khích, nắm vững con đường của Đảng, không manh động, không nhượng bộ trước sự tấn công của thế lực phản động thuộc địa".

Tìm được 402 bản ghi

TITÔ J. B.

(Josip Broz Tito; 1892 - 1980), nguyên soái, nhà hoạt động phong trào cộng sản Nam Tư và Quốc tế, nhà hoạt động chính trị và Nhà nước Cộng hoà Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. Năm 1910, gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ Croatia; Năm 1915, bị bắt sang Nga, sau đó đứng trong hàng ngũ Hồng quân tham gia cuộc Nội chiến. Năm 1920, trở về nước, gia nhập Đảng Cộng sản Nam Tư. Từ 1936, uỷ viên Uỷ ban Trung ương và uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Nam Tư. Làm việc trong Quốc tế Cộng sản tại Matxcơva (1935 - 36). Từ 1937, tổng bí thư Đảng Cộng sản Nam Tư (1952) đổi thành Liên đoàn Những người Cộng sản Nam Tư. Từ 1941 đến 1945, tổng tư lệnh tối cao Quân đội Giải phóng Dân tộc và các đơn vị du kích Nam Tư; 1943 - 45, chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Giải phóng Nam Tư; 1945 - 46, chủ tịch Chính phủ Lâm thời và bộ trưởng Bộ Quốc phòng; 1946 - 53, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; từ 1953, chủ tịch Nước Cộng hoà Liên bang Nhân dân Nam Tư (từ 1963, đổi là Cộng hoà Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư) và đồng thời đứng đầu Chính phủ (1953 - 63). Năm 1961, tham gia sáng lập Phong trào Không liên kết.


 

TÍNH TƯ TƯỞNG

khuynh hướng chính trị, triết học, thẩm mĩ... thể hiện trong tác phẩm văn học, nghệ thuật. TTT thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả đồng thời cũng phản ánh những vấn đề của con người, của thời đại đặt ra trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể mà nhà văn khai thác và xử lí trong tác phẩm. Bất kì tác phẩm nào cũng có TTT, thể hiện rõ quan điểm của tác giả đối với các vấn đề của xã hội nói chung, đối tượng miêu tả trong tác phẩm nói riêng. Việc phân tích làm rõ TTT và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học nghệ thuật trong mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau là công việc của người nghiên cứu và phê bình văn học nghệ thuật. Trong nghiên cứu và phê bình văn học, khi dùng khái niệm TTT để phân tích tư tưởng tác phẩm không có nghĩa là xem nặng TTT và xem nhẹ tính nghệ thuật. Trái lại, hai mặt tư tưởng và nghệ thuật trong một tác phẩm "đều phải tốt một trăm phần trăm" (Phạm Văn Đồng).

TÌNH TRẠNG GIỚI NGHIÊM

tình trạng xã hội khẩn cấp trong đó mọi sự di chuyển của công dân và mọi hoạt động dân sự bị đình chỉ, mọi nhân lực và vật lực có thể bị động viên theo lệnh của nhà cầm quyền. Lệnh giới nghiêm thường được ban bố khi xảy ra tình huống đặc biệt, an ninh quốc gia và trật tự xã hội bị đe doạ, đất nước có nguy cơ bị rối loạn. Trong TTGN, người đứng đầu nhà nước có thể được giao những quyền hạn đặc biệt rộng rãi nhằm đặt xã hội dưới sự kiểm soát chặt chẽ nhất của quân đội và cảnh sát. TTGN có thể được thi hành trong các nước, không kể chế độ xã hội. Tuy nhiên, cũng có trường hợp một tập đoàn phản động tiếm quyền có thể ban bố TTGN để vô hiệu hoá những hoạt động chính đáng của nhân dân.

TÌNH THẾ CÁCH MẠNG

trình độ chín muồi báo hiệu sự bùng nổ của cách mạng. TTCM có những đặc trưng cơ bản: 1) Giai cấp thống trị không thể thống trị như cũ được nữa; 2) Khó khăn trong đời sống kinh tế, chính trị xã hội... của quần chúng bị áp bức đã vượt quá mức bình thường, tâm trạng bất mãn của họ đã đến cao độ và đòi hỏi phải thay đổi chế độ xã hội hiện có bằng một chế độ xã hội mới tiến bộ hơn. Các nhân tố cơ bản nói trên tác động qua lại tạo nên cuộc khủng hoảng chính trị toàn quốc. TTCM chỉ mới nói lên khả năng khách quan của cách mạng. Muốn cho cách mạng nổ ra và thắng lợi cần có thêm nhân tố chủ quan: trình độ giác ngộ và tổ chức của các giai cấp cách mạng, trước hết là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng, của chính đảng của giai cấp ấy. Vai trò chủ quan có ý nghĩa quyết định trong việc đẩy nhanh và chuyển TTCM thành cách mạng, bảo đảm sự thắng lợi của cách mạng.

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ Ở ĐÔNG DƯƠNG

bản báo cáo của Nguyễn Ái Quốc viết tháng 7.1939 gửi cho Quốc tế Cộng sản. Sau 5 năm học tập và nghiên cứu trong các trường và học viện chính trị, ngày 29.9.1938, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Viện Nghiên cứu các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa ở Liên Xô, để chuẩn bị và đi về biên giới Việt Nam. Cuộc hành trình đó mất 2 tháng mới về đến phía nam Trung Quốc. Tháng 7.1939, Nguyễn Ái Quốc đã gửi Quốc tế Cộng sản bản báo cáo về tình hình chính trị ở Đông Dương trong những năm 1936 - 39. Người đã truyền đạt cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương những ý kiến thuộc về đường lối và chủ trương cách mạng trong thời kì vận động dân chủ. Người viết: lúc bấy giờ Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao như đòi độc lập dân tộc, mà chỉ nên đưa ra khẩu hiệu đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí, đòi ân xá toàn bộ chính trị phạm. Phải tổ chức mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, liên minh với cả tư sản dân tộc và cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương; liên hệ chặt chẽ với Mặt trận Nhân dân Pháp; đấu tranh chống Trôxki. Đảng không thể đòi hỏi mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ rõ là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ thông qua đấu tranh và công tác, được quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo. Báo cáo cũng đã trình bày tình hình đấu tranh của công nhân, nông dân; đấu tranh trên mặt trận báo chí, nghị trường; phong trào quần chúng ủng hộ cuộc Kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc, vv.

TÍNH ĐẢNG

biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất khuynh hướng tư tưởng tự giác bảo vệ và bênh vực lợi ích của một giai cấp nhất định. Cơ sở lí luận của nguyên tắc TĐ trong văn học xã hội chủ nghĩa đã được Lênin nêu trong bài: "Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng" (1905). Những nhà văn theo quan điểm macxit bao giờ cũng coi TĐ vô sản là một trong những nguyên lí chủ đạo của sáng tạo nghệ thuật. Trái lại, những nhà mĩ học phản macxit thường đem tự do sáng tác đối lập với TĐ trong văn học nghệ thuật. Theo quan điểm văn nghệ macxit thì TĐ không đối lập với tự do sáng tác, trái lại, càng hiểu rõ TĐ trong văn học, người nghệ sĩ càng có tự do, tức tinh thần tự nguyện, tự giác, ý thức trách nhiệm cao nhất trước công việc sáng tạo.

THÔNG CÁO KHẨN CẤP CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (10.3.1939)

thông cáo khẩn cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các đảng bộ nêu rõ việc thực dân Pháp ở Đông Dương khủng bố phong trào quần chúng từ Nam chí Bắc và báo "Dân chúng", cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương bị chúng bắt hết nhân viên và tịch thu hết tài liệu. Thông cáo nêu lên các khẩu hiệu đấu tranh trong các cuộc mít tinh là:1) Chống khủng bố, đòi lập tức thả hết nhân viên toà soạn "Dân chúng". 2) Đòi ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện sinh hoạt cho dân chúng và mở rộng chế độ tuyển cử. 3) Đòi tổng ân xá chính trị phạm, thủ tiêu án biệt xứ và quản thúc. Trung ương căn dặn các đảng bộ "cần tránh những khẩu hiệu "tả", đề phòng sự khiêu khích, nắm vững con đường của Đảng, không manh động, không nhượng bộ trước sự tấn công của thế lực phản động thuộc địa".

THOÁI HOÁ BIẾN CHẤT

chuyển biến thụt lùi, thay đổi về chất theo chiều hướng xấu. Sự suy giảm ý chí, đạo đức, nhân cách, dẫn tới tư tưởng và hành vi xấu trong đời sống xã hội.

THI ĐUA KINH TẾ GIỮA HAI HỆ THỐNG

    hình thức đấu tranh về kinh tế giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa. Khi xuất hiện hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lúc đầu quan điểm ngự trị về cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống là đấu tranh chính trị, tư tưởng, quân sự, đấu tranh giai cấp. Việc đề xướng thi đua kinh tế giữa hai hệ thống là một quan niệm mới, chủ yếu do sự thách thức của kinh tế tư bản chủ nghĩa, đang tiến mạnh trên con đường cách mạng khoa học kĩ thuật, nếu chủ nghĩa xã hội không ra sức phát triển sản xuất, chạy đua kinh tế với chủ nghĩa tư bản, thì không thể thắng chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhất là từ cuối những năm 50 đến cuối thập kỉ 80 thế kỉ 20, những quan điểm giáo điều trong các nước xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự trì trệ về kinh tế xã hội, chính đây là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa Đông Âu và Liên Xô đi đến khủng hoảng và tan rã. Những người xã hội chủ nghĩa chân chính đang nhận thức lại chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng sáng tạo học thuyết kinh tế của Mac và Lênin, để xây dựng một mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa năng động và ưu việt, nhằm đuổi kịp và vượt tư bản chủ nghĩa về kinh tế. Sứ mệnh này hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài.

THI ĐUA

    tác động kích thích lẫn nhau trong quá trình cùng nhau hoạt động nhằm phát huy tài năng của từng người và nhiều người để đạt được kết quả cao hơn. Quan hệ TĐ là một quan hệ có tính xã hội; "ngay sự tiếp xúc xã hội cũng sinh ra TĐ, sinh ra sự phấn chấn đặc biệt nâng cao năng suất lao động" (Mac). Các chế độ xã hội cũ chỉ vận dụng và tổ chức TĐ trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể (thi tài, đua sức) và trong một phạm vi hẹp. Chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa xoá bỏ mọi hình thức áp bức bóc lột, tạo ra khả năng vận dụng và tổ chức TĐ một cách hết sức rộng rãi trên tinh thần giác ngộ về mục đích xã hội, về sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Điều kiện quan trọng để tổ chức TĐ là sự thông tin công khai về những thành tựu đã đạt được và sự tương trợ hữu ái giữa những người lao động theo tinh thần chủ nghĩa tập thể. TĐ là đòn bẩy mạnh mẽ nhằm nâng cao năng suất lao động, là phương pháp để giáo dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Ở Việt Nam, TĐ xã hội chủ nghĩa là sự kế tục và phát triển phong trào TĐ yêu nước trong những năm kháng chiến.