Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THÔNG ĐIỆP

hình thức hoạt động phổ biến trong công tác ngoại giao. Có nhiều loại TĐ: 1) TĐ có kí tên: do một đại diện ngoại giao gửi cho bộ trưởng ngoại giao ở nước mình có cơ quan đại diện ngoại giao, hoặc ngược lại, do bộ trưởng ngoại giao gửi cho đại diện ngoại giao của một nước ngoài. 2) TĐ không kí tên: thư không kí tên do đại diện ngoại giao gửi cho bộ trưởng ngoại giao ở nước mình có cơ quan đại diện ngoại giao hoặc ngược lại. Thông thường, TĐ không kí tên dùng để nói về những vấn đề tương đối thứ yếu. 3) TĐ thông tri: văn bản gửi cùng một lúc cho một số nước. 4) TĐ miệng: phát biểu công khai của nguyên thủ quốc gia hay nhà ngoại giao trên các hệ thống truyền thông đại chúng về một sự kiện nào đó, hoặc lời nhắn gửi không chính thức của một chính khách, một nhà ngoại giao qua một nhân vật môi giới ngoại giao.

Tìm được 318 bản ghi

THÔNG ĐIỆP

hình thức hoạt động phổ biến trong công tác ngoại giao. Có nhiều loại TĐ: 1) TĐ có kí tên: do một đại diện ngoại giao gửi cho bộ trưởng ngoại giao ở nước mình có cơ quan đại diện ngoại giao, hoặc ngược lại, do bộ trưởng ngoại giao gửi cho đại diện ngoại giao của một nước ngoài. 2) TĐ không kí tên: thư không kí tên do đại diện ngoại giao gửi cho bộ trưởng ngoại giao ở nước mình có cơ quan đại diện ngoại giao hoặc ngược lại. Thông thường, TĐ không kí tên dùng để nói về những vấn đề tương đối thứ yếu. 3) TĐ thông tri: văn bản gửi cùng một lúc cho một số nước. 4) TĐ miệng: phát biểu công khai của nguyên thủ quốc gia hay nhà ngoại giao trên các hệ thống truyền thông đại chúng về một sự kiện nào đó, hoặc lời nhắn gửi không chính thức của một chính khách, một nhà ngoại giao qua một nhân vật môi giới ngoại giao.

THÔNG CÁO CHUNG TRUNG - MĨ 1978

thông cáo chung được công bố 16.12.1978 về việc hai bên (Chính phủ Hoa Kì và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa) thoả thuận công nhận lẫn nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao từ 1.1.1979, trao đổi đại sứ và lập đại sứ quán từ 1.3.1979. Hoa Kì thừa nhận Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên nhân dân Hoa Kì sẽ duy trì quan hệ không chính thức về văn hoá, kinh tế, thương mại với nhân dân Đài Loan. Hai bên cũng khẳng định lại những nguyên tắc của Thông cáo chung Thượng Hải 1972. Ngày 16.12.1978, Chính phủ Hoa Kì tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan từ 1.1.1979, đồng thời bãi bỏ Hiệp ước phòng thủ chung kí 1954 giữa Hoa Kì và Đài Loan. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Hoa Kì có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hai nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà dịu trên thế giới.

THÔNG CÁO CHUNG TRUNG - MĨ 1972

thông cáo chung được công bố 28.2.1972 tại Thượng Hải nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của tổng thống Hoa Kì Nichxơn (R. Nixon) từ 21 đến 28.2.1972. Nội dung: 1) Đề cập đến tình hình Đông Dương, Chính phủ Hoa Kì khẳng định lại mục đích của mình là tìm cách giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng, giữ vững quan hệ chặt chẽ với Nam Triều Tiên và Nhật Bản. 2) Chính phủ Trung Quốc khẳng định "sự ủng hộ vững chắc" nhân dân Đông Dương, mong muốn thấy Triều Tiên thống nhất, phản đối việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật. 3) Trong vấn đề Đài Loan, Hoa Kì công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc, nhưng phản đối việc dùng vũ lực để thống nhất Đài Loan; Trung Quốc không đặt việc rút ngay quân đội Hoa Kì khỏi Đài Loan và chấm dứt quan hệ với Đài Loan là điều kiện để phát triển quan hệ với Hoa Kì. 4) Thoả thuận cùng phối hợp hành động để phát triển sự hợp tác và trao đổi khoa học kĩ thuật, văn hoá, thể thao, thương mại giữa hai nước.

Trong chuyến thăm này, Nichxơn nêu chủ trương gắn việc giảm sự hiện diện quân sự Hoa Kì ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương (trong đó có lực lượng ở Đài Loan) với quá trình giải quyết chiến tranh Việt Nam, thực hiện Học thuyết Nichxơn. Chuyến đi có hệ quả không nhỏ về mặt quốc tế, tất nhiên nó đã không "thay đổi được thế giới" như Nichxơn đã tuyên bố. Đối với Trung Quốc, đây là bước tiến phá thế bao vây, cấm vận của Hoa Kì, đặt được khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ lâu dài với Hoa Kì.

THÔNG CÁO CHUNG

văn kiện quốc tế quan trọng ghi nhận kết quả chuyến thăm, hội đàm hoặc đàm phán giữa đại diện hai hay nhiều nước hữu quan về những vấn đề mà các bên cùng quan tâm, được công bố cho báo chí. Trong TCC, các bên đề cập thời gian, địa điểm, thành phần, không khí, đặc biệt là kết quả của chuyến thăm, hội đàm hoặc đàm phán. Trong TCC về chuyến thăm bao giờ cũng nêu thái độ chung về quan hệ song phương và một số vấn đề quốc tế cùng quan tâm, không nêu các bất đồng. Cuối TCC nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm (đàm phán) đối với quan hệ song phương, hoà bình, ổn định ở khu vực và thế giới. TCC không có chữ kí của các bên. TCC thường được ban hành sau các cuộc gặp cấp cao giữa hai hay một số nước. Vd. TCC Nga - Mĩ; TCC Việt Nam - Trung Quốc, vv.

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

văn bản thông báo chính thức của các bên tham dự hội đàm hoặc đàm phán quốc tế. Bao gồm các điểm do các bên thoả thuận cho công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng của mỗi bên. Cũng có thể là loại văn bản của cơ quan, đoàn thể có thẩm quyền loan báo cho mọi người về một sự kiện quan trọng.

THÔNG CÁO

văn bản thông báo chính thức về quá trình hoặc kết quả đàm phán quốc tế, về thoả thuận quốc tế đã đạt được trong quá trình đàm phán. Có thể được trình bày ngắn gọn hoặc chi tiết về lập trường, quan điểm của các bên đối với những vấn đề cơ bản cũng như các quyết định được thông qua. Cũng có thể công bố những điều được thoả thuận giữa các bên hữu quan. Trong trường hợp này, TC mang tính chất ràng buộc pháp lí đối với các bên hữu quan.

TC của các bên dự đàm phán gọi là thông cáo chung (x. Thông cáo chung).

Tuyên bố chung là hình thức long trọng hơn và cao hơn TC, thường dùng trong hội đàm ở cấp cao, có nội dung quan trọng và có chữ kí của các bên. Tuyên bố chung có giá trị như một điều ước quốc tế, có thể tiếp theo sau được cụ thể hoá bằng điều ước quốc tế chuyên đề.

THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO

thiết lập quan hệ chính thức về chính trị giữa hai quốc gia, được tiến hành do sự thoả thuận của các quốc gia đó. Bước đầu tiên tiến tới TLQHNG giữa các bên hữu quan thường là sự thừa nhận lẫn nhau về thực tế hoặc về pháp lí. Việc thoả thuận TLQHNG có thể qua đàm phán trực tiếp giữa đại diện của các nước hữu quan, hoặc thông qua đại diện ngoại giao của các nước thứ ba và qua hình thức trao đổi thư từ, điện tín, công hàm giữa nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao hay nhân vật được uỷ quyền đặc biệt của các nước hữu quan. Các bên hữu quan thảo luận cụ thể với nhau về cấp bậc cơ quan đại diện ngoại giao, ngày bắt đầu có hiệu lực cũng như ngày và trình tự công bố thoả thuận TLQHNG.

THỊ THỰC

dấu hiệu đặc biệt được in hoặc gắn vào hộ chiếu cho phép người mang hộ chiếu đó được quyền đi ra (xuất cảnh), đi vào (nhập cảnh) hay đi qua (quá cảnh) lãnh thổ của một quốc gia. Tuỳ theo hướng đi, có các loại TT: xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, nhập - xuất cảnh, xuất - nhập cảnh. Trong các loại này có TT thường và TT ngoại giao. TT ngoại giao là TT đặc biệt được cấp cho thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao của phái đoàn chính thức đi thăm nước ngoài hay đi dự hội nghị quốc tế, giao thông viên ngoại giao, vv. TT ngoại giao còn có thể được cấp cho thành viên của cơ quan đại diện lãnh sự. Chỉ sau khi được cấp TT thì người mang hộ chiếu mới được lực lượng biên phòng ở cửa khẩu cho phép xuất, nhập cảnh hay quá cảnh. Miễn TT chỉ đặt ra khi đã có hiệp định riêng được kí kết giữa hai nước hữu quan. TT được cấp theo một thời hạn nhất định và có giá trị trong thời gian đó. Có TT sử dụng một lần, nhưng cũng có TT sử dụng nhiều lần. Pháp luật của từng quốc gia quy định cơ quan nhà nước nào của mình ở trong và ngoài quốc gia được cấp TT và được cấp loại nào (thường hay ngoại giao). Việc áp dụng TT giúp cho nhà nước có thể kiểm soát và điều chỉnh lưu lượng người nước ngoài ra vào nước mình. Hiện nay, có một số nước áp dụng miễn TT theo những điều kiện nhất định đối với một số đối tượng nhất định (vd. khách du lịch ngắn hạn) bằng việc kí với nhau hiệp định miễn TT cho công dân nước họ, vd. giữa các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU). Việt Nam đã kí nhiều hiệp định miễn TT với nhiều nước như Cămpuchia, Lào, Cuba, Trung Quốc, Nga, Bêlarut, Ukraina, Mông Cổ... (thường là với hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ); với Thái Lan và Philippin, Việt Nam đã kí thoả thuận miễn TT có thời hạn cho cả hộ chiếu phổ thông. Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, đặc biệt là Nghị định 05/2000/NĐ - CP ngày 3.3.2000 nhằm đơn giản hoá các thủ tục xuất nhập cảnh Việt Nam đối với công dân Việt Nam và khách nước ngoài.