Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THƠ VĂN XUÔI

thể thơ viết như văn xuôi, chỉ cần có ý thơ, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và có nhạc điệu. Còn hình thức thì không có quy luật nhất định về câu, chữ, đối ngẫu, vần điệu. Ở Việt Nam, TVX xuất hiện lần đầu với những bài ngắn ghi lại một cảm nghĩ nào đó của Phạm Văn Hạnh trong "Xuân thu nhã tập". Sau cách mạng, nhiều nhà thơ cũng làm TVX, nhưng lại ngắt ra từng câu, dài ngắn khác nhau, khi có vần, khi không, tuỳ cảm hứng, hiệp vần cũng lỏng lẻo, chỉ theo âm hưởng, đó là thơ tự do. Nhà thơ Chế Lan Viên đã sử dụng thể này một cách tài tình để viết những bài thơ chính luận, mang đậm tính thời sự - chiến đấu về chủ đề chống Mĩ cứu nước: "Những bài thơ đánh giặc" (1972), "Đối thoại mới" (1973).

Tìm được 1221 bản ghi

THƠ VĂN XUÔI

thể thơ viết như văn xuôi, chỉ cần có ý thơ, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và có nhạc điệu. Còn hình thức thì không có quy luật nhất định về câu, chữ, đối ngẫu, vần điệu. Ở Việt Nam, TVX xuất hiện lần đầu với những bài ngắn ghi lại một cảm nghĩ nào đó của Phạm Văn Hạnh trong "Xuân thu nhã tập". Sau cách mạng, nhiều nhà thơ cũng làm TVX, nhưng lại ngắt ra từng câu, dài ngắn khác nhau, khi có vần, khi không, tuỳ cảm hứng, hiệp vần cũng lỏng lẻo, chỉ theo âm hưởng, đó là thơ tự do. Nhà thơ Chế Lan Viên đã sử dụng thể này một cách tài tình để viết những bài thơ chính luận, mang đậm tính thời sự - chiến đấu về chủ đề chống Mĩ cứu nước: "Những bài thơ đánh giặc" (1972), "Đối thoại mới" (1973).

THƠ TỨ TUYỆT

x. Tứ tuyệt.

THƠ NGỤ NGÔN

x. Ngụ ngôn.

THƠ LUẬT ĐƯỜNG

(cg. thơ cận thể), thể thơ cách luật xuất hiện từ đời Đường (Tang), Trung Quốc. TLĐ còn gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy. Về số chữ, có thể 5 chữ (ngũ ngôn) và thể 7 chữ (thất ngôn) (cổ thể cũng có ngũ ngôn, thất ngôn không theo cách luật đời Đường) nên phải gọi ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi để phân biệt. Số câu thì có bài 4 câu, gọi là tứ tuyệt hay tuyệt cú, chia ra ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú. Thể 7 chữ, 8 câu (thất ngôn bát cú) là dạng cơ bản; hệ thống quy tắc rất phức tạp. Có năm điều quyết định chặt chẽ: vần, đối, luật, niêm và bố cục. a) Vần: suốt bài chỉ một vần (độc vận), thường dùng vần bằng, đôi khi dùng vần trắc. Không được gieo sai vần, hay dùng vần ép. b) Đối: phải đối ý và đối chữ; đối chữ còn phải đối thanh (bằng đối với bằng, trắc đối với trắc), đối loại, cùng từ loại đối với nhau (cùng hai danh từ, hoặc hai động từ, vv.). Trừ hai câu đầu và hai câu cuối, không đối; còn 4 câu giữa, đối từng cặp, câu 3 đối với câu 4; câu 5 đối với câu 6. c) Luật: là cách sắp đặt tiếng bằng, tiếng trắc trong mỗi câu của bài thơ (x. Luật). d) Niêm: là dính, dính với nhau từng cặp, nghĩa là chữ thứ 2 của hai câu phải cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc; câu 1 dính với 8; câu 2 dính với 3; câu 4 dính với câu 5; câu 6 dính với câu 7. Không dính thì gọi là thất niêm. e) Bố cục gồm 4 phần: đề, thực, luận, kết. Câu thứ nhất mở bài, gọi là phá đề; câu 2 nối đề với thân bài, gọi là thừa đề. Thực hoặc trạng (hai câu 3 và 4) giải thích rõ đầu bài. Luận (hai câu 5 và 6) bàn rộng ý trong đầu bài. Kết (hai câu 7 và 8) kết thúc ý toàn bài. Có nhiều biến thể của TLĐ, như tiệt hạ (mỗi câu đều lơ lửng, không trọn ý mà cũng không trọn lời); yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một hay hai chữ); thủ vĩ ngâm (câu cuối lặp lại câu đầu), vv. Các nhà thơ Việt Nam đều có làm đủ các thể của TLĐ. Khoa cử thời phong kiến chỉ dùng thể thất ngôn bát cú. Trong phong trào "thơ mới", Quách Tấn toàn làm TLĐ.

THƠ ĐƯỜNG

toàn bộ thơ ca đời Đường, từ thế kỉ 7 - 10 (618 - 907). Đời Đường (Tang) có hàng nghìn nhà thơ, thơ của họ được bảo tồn trong cuốn "Toàn Đường thi" gồm 48.900 bài. Đời Thanh có chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú ("Đường thi tam bách thủ") được phổ biến rộng rãi, nhất là ở Việt Nam. Có 4 giai đoạn: Sơ Đường (khoảng 618 - 713), Thịnh Đường (khoảng 713 - 766), Trung Đường (khoảng 766 - 835), Vãn Đường (khoảng 835 - 907). Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" [Dương Quýnh (Yang Jiong), Lư Chiếu Lân (Lu Zhaolin), Lạc Tân Vương (Luo Binwang), Vương Bột (Wang Bo)] đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước (Lục triều). Nhưng tới Trần Tử Ngang (Chen Zi'ang) thì mới có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường [Thẩm Thuyên Kỳ (Shen Shuanqi), Tống Chi Vấn (Song Zhiwen)]. Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang  làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch (Li Bai), Đỗ Phủ (Du Fu) và Bạch Cư Dị (Bai Juyi). Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, người theo đạo Nho, người theo đạo Phật hoặc theo Lão Trang. Có loại thơ "biên tái" [Cao Thích (Gao Shi), Sầm Tham (Cen Can)], thơ "điền viên" [Vương Duy (Wang Wei), Mạnh Hạo Nhiên (Meng Haoran)], thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn), thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường [Bì Nhật Hưu (Pi Rixiu), Đỗ Tuấn Hạc (Du Xunhe)], theo khuynh hướng hiện thực của Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật (x. Thơ luật Đường), thơ cổ phong (x. Cổ phong) và nhạc phủ (x. Nhạc phủ). Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông. Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình. Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau. Nhưng về ngôn ngữ, TĐ tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú. Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ (ý ngoài lời); đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ. Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến. Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

THƠ CỔ PHONG

x. Cổ phong.

THƠ

nghệ thuật của sự tinh lọc ngôn từ nhằm biểu hiện sự phong phú của những cảm xúc trực tiếp, của những hình ảnh tập trung trong một cấu trúc mang những âm điệu, vần điệu nhất định. Cũng như văn xuôi, T là nghệ thuật ngôn từ để biểu hiện đời sống. Nhưng T khác văn xuôi ở chỗ, nếu văn xuôi dùng tiếng nói trực tiếp của đời sống để biểu đạt đời sống với tất cả sự bộn bề đa dạng, để tiếp cận cả chiều sâu lẫn chiều rộng của nó, thì T là sự chưng cất từ cái bộn bề đa dạng trực tiếp ấy để gạn lấy cái tinh túy nhất. Cái tinh tuý ấy thường được gọi là "chất thơ". "Chất thơ" là một khái niệm khá trừu tượng, nhưng có thể chỉ định mấy thuộc tính cơ bản sau: chất thơ được thể hiện ở sự phong phú của những cảm xúc, ở những hình ảnh cô đọng, ở những ý nghĩa sâu xa có tính chất hàm ẩn (ngầm), và ở sự hoà điệu về mặt âm vận, vần và nhịp. Có nhiều loại T như T lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, ngụ ngôn, "thơ mới", T không vần, vv. Có nhiều trường phái T như T lãng mạn, T tượng trưng, T siêu thực, T văn xuôi, vv.

THÊÔKRITÔT

(Theokritos; 315 - 250 tCn.), nhà thơ cổ Hi Lạp. Sáng tác những bài thơ ngắn phản ánh cuộc sống du mục của những người chăn cừu giữa cảnh đồng cỏ hoang vắng. Đó là nguồn gốc của thơ trữ tình. Tác phẩm "Mục ca" được nhà thơ Viêcgin (P. M. Virgile) bắt chước. Nhà thơ Pháp Rôngxa (P. de Ronsard) cũng học Thêôkritôt làm loại thơ này, ca tụng tình yêu và thiên nhiên.

 

"THƠ THƠ"

tập thơ đầu của nhà thơ Việt Nam - Xuân Diệu. Sáng tác trong khoảng 1933 - 38, xuất bản 1938. "TT" bộc lộ một tình cảm tha thiết đối với cuộc đời, đặc biệt là một niềm say đắm đối với tình yêu, khao khát và vội vàng tận hưởng tình yêu bởi cảm nhận tình yêu không bền, cuộc đời chóng qua và con người chỉ còn lại sự cô đơn, trơ trọi một mình. "TT" là một thành tựu tiêu biểu của phong trào "thơ mới".

"THƠ MỚI"

phong trào thơ trong văn học Việt Nam ra đời vào những năm 1932, 1933, chấm dứt khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ. Có thể xem Phan Khôi là người khởi xướng với bài "Tình già", được giới thiệu như là "một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ" ("Phụ nữ tân văn", số ra ngày 10.3.1932). Phan Khôi xuất thân nhà Nho "muốn phá những niêm, những vần, những luật bó buộc của thơ cũ" mà làm bài thơ trên, chứ không có ý định gây phong trào; về sau ông cũng không làm bài "TM" nào khác nữa. Nhưng một loạt nhà thơ trẻ xuất hiện. Họ diễn thuyết, viết báo ca tụng "TM", đả kích thơ cũ, làm những bài thơ, mới cả về nội dung lẫn hình thức, lôi cuốn lòng người. Nổi nhất là Thế Lữ với những bài thơ đăng trên "Phong hoá" và "Ngày nay" của Tự lực văn đoàn, sau tập hợp trong "Mấy vần thơ" (1935). Nhà thơ này "không kèn không trống đã bênh vực vững vàng cho "TM", làm cho người ta tin cậy ở tương lai của "thơ mới". Phong trào "TM" không có người cầm đầu, không có tuyên ngôn. Thế Lữ chỉ là nhà "TM" được mến chuộng nhất ở buổi đầu và được tôn là "chủ soái". Sự đổi mới của "TM" rất phức tạp và tuỳ theo từng nhà thơ, không có chủ trương chung. Về hình thức, có những bài "TM" dùng những thể cách rộng rãi, không hạn chế số câu, số chữ, không có niêm, luật, không theo phép đối, mà cách hiệp vần cũng không cố định. Có người gieo vần theo kiểu thơ Pháp; vần liên tiếp, vần gián cách, vần ôm, vần hỗn tạp. Có người vẫn làm thơ 5 chữ, 7 chữ. Dần dần thơ 8 chữ được cố định, trở thành thuần thục, tiêu biểu cho "TM". Về sau, "TM" có xu hướng trở về với thơ dân tộc (lục bát), và thơ tứ tuyệt, chắp nối nhiều khổ thành bài dài, hoặc thơ cổ phong vốn phóng khoáng đáp ứng yêu cầu của "TM". Đặc biệt có nhà "TM" toàn làm thơ cũ (thất ngôn bát cú), nhưng ý thì mới. "TM" khác "thơ cũ" chủ yếu về tâm tư, tình cảm gửi gắm vào thơ. Ở đây cũng mỗi người một vẻ. Người ca ngợi cảnh thiên nhiên, say sưa với tình yêu, sắc đẹp, người đi tìm một cuộc sống giang hồ phiêu lãng trong mơ mộng, "say sưa" hoặc gửi mình trong những trầm tư triết học. Bao nhiêu nhà thơ là có bấy nhiêu cách cảm nghĩ khác nhau. Ai cũng muốn đưa những cảm nghĩ chân thật nhất của mình. Họ có những nhu cầu, khát vọng mới. Họ có ý thức về cái "tôi", đòi giải phóng cái "tôi". Có tinh thần yêu nước nhưng chưa gặp lí tưởng soi đường, các nhà "TM" đã gửi gắm trong thơ của mình "nỗi quan hoài chung của một thế hệ bị "dồn ép". Bài tiểu luận mở đầu tuyển tập "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân (1942) đã trình bày phong trào này một cách đầy đủ và sâu sắc. Những nhà thơ mới nổi tiếng là Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Trần Huyền Trân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông, Tế Hanh, Yến Lan, Anh Thơ. "TM" đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển của thơ Việt Nam về xúc cảm, về phong cách và ngôn ngữ. Cho đến nay, "TM" đã để lại những bài thơ bất hủ. Phần lớn những nhà thơ mới là những nhà thơ yêu nước, nhiều người đã tham gia Cách mạng tháng Tám và ngay từ đầu đã trở thành những nhà thơ lớn trong văn học Việt Nam: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ, Yến Lan, vv. Riêng Thế Lữ và Trần Huyền Trân đã chuyển sang hoạt động sân khấu.