Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THỜ CÚNG TỔ TIÊN

một trong các hình thái tôn giáo sơ khai, thờ cúng và cầu dâng lễ vật linh hồn tổ tiên đã chết, với niềm tin có khả năng gây ảnh hưởng đến đời sống con cháu. Hiện tượng này tồn tại cá biệt ở vài xã hội thị tộc mẫu hệ [người Mêlanêdi (Mélanésie) và Micrônêdi (Micronésie)]. Điển hình hơn cả là ở các xã hội phụ quyền. Chuyển sự phục tùng uy quyền của người chủ gia đình và tù trưởng lúc sống sang sự thần thánh hoá sau lúc họ chết. Trong quá trình tan rã xã hội nguyên thủy xuất hiện thờ cúng tù trưởng bộ lạc và sau đó là vua chúa. Ở một số nơi ngay cả khi còn sống, tù trưởng, vua chúa cũng được thần thánh hoá, còn tổ tiên của họ là những vị thần hùng mạnh. Được duy trì dai dẳng trong xã hội có giai cấp, là cơ sở của Khổng giáo ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước phương Đông. Trong các tài liệu khoa học, được quan niệm rộng rãi hơn, bao gồm sự quan tâm đến người chết, niềm tin vào tổ tiên Tô tem, thờ cúng người bảo hộ thị tộc, vv. Trên thực tế đó là những tín ngưỡng tôn giáo cổ xưa hơn, về sau được hoà nhập vào sự TCTT. TCTT có nhiều hình thức và nhiều cấp độ.

Tìm được 1087 bản ghi

THỐNG QUÁN

chức vụ thứ hai, giúp việc thống lí và trực tiếp cai quản một vùng núi nhỏ, điển hình ở người Mông vùng Tây Bắc Việt Nam.

THÔNG LINH HỌC

một chủ thuyết mang tính thực hành, muốn dùng khoa học để minh chứng cho sự tồn tại của các vong linh. Con người có thể tiếp xúc được với vong hồn qua những người có phép lạ, có ma thuật (hay phương thuật) hoặc qua chiếc bàn xoay hay còn gọi là bàn ma. Những người có phép lạ có thể thông qua vận năng của bản thân để tiếp cận với các siêu linh ở thế giới bên kia. Các nhà TLH chủ trương phải khẳng định linh hồn là có thật, bất tử, cũng tồn tại, có vui, có buồn, có hình dáng được trú trong một hình thể vật chất, thông qua một vật vô hình tinh khiết mà con người trần tục không thể thấy được. Linh hồn có thể tác động đến con người và có thể khuyên nhủ con người những điều người trần không thể biết.

Ở Việt Nam, đạo Cao Đài ban đầu cũng dùng phương pháp chiếc bàn xoay để tiếp cận với các thần linh, sau được thay bằng phương pháp cầu cơ, phổ biến của Đạo giáo. TLH hiện nay đang còn là vấn đề tranh luận trong khoa học.

THỐNG LÍ

chức vụ đứng đầu bộ máy chính quyền cai quản một vùng núi phổ biến và điển hình ở người Mông vùng Tây Bắc Việt Nam. Đây là chức cha truyền con nối, dành cho một dòng họ có thế lực nhất trong vùng. Giúp việc cho TL có thống quán, xéo phải, vv. TL nắm thần quyền và có quyền lực cao nhất trong điều hành và xử lí các công việc theo luật tục và công việc hành chính trước đây.

THÔNG CÔNG

sự cộng đồng về tinh thần giữa tín đồ với nhau và giữa tín đồ với Thượng đế, thông qua giáo hội, theo tín ngưỡng của đạo Thiên Chúa. Rút phép TC là sự trừng phạt một tín đồ khi phạm trọng tội; người bị rút phép TC bị vạ tuyệt thông - không còn được quan hệ với các tín đồ khác, bị khai trừ khỏi giáo hội.

THÔN

điểm tụ cư của người Việt ở vùng nông thôn, gồm một số xóm. Ở Miền Nam gọi là ấp. Có ý kiến cho T là làng, có ý kiến cho T là một phần của làng. Thời phong kiến, từ thế kỉ 15 về sau, thường vài ba T hợp lại thành một xã, cũng có khi T lớn là xã. Cư dân trong T thường có 2 mối quan hệ: quan hệ láng giềng và quan hệ họ hàng. T là công xã nông thôn hay còn gọi là công xã láng giềng, hoặc một bộ phận của công xã láng giềng. T có hương ước, có tín ngưỡng, thờ Thành hoàng ở đình. Hiện nay trong hệ thống hành chính mới của Việt Nam, cấp cuối cùng là xã. Những làng họp lại thành xã đều được gọi là T. Nhà nước Việt Nam vừa ban hành trong phạm vi toàn quốc quy chế T, xem đó là điểm tụ cư dưới xã, có tính chất tự quản. Dân bầu ra trưởng thôn và một số người giúp việc để điều hành công việc của T.

THỔ TI

chế độ quy định cho các tù trưởng hay chúa đất ở các dân tộc thiểu số được cha truyền con nối, cai quản một vùng đất nhất định với điều kiện chịu thần phục triều đình trung ương. Ở Việt Nam, chế độ TT được các triều đình áp dụng đối với các dân tộc vùng Bắc và Đông Bắc. Ở vùng người Tày Việt Bắc gọi là chế độ quằng, ở vùng người Thái Tây Bắc - chế độ phìa tạo; ở vùng người Mường Hoà Bình và Thanh Hoá - chế độ lang đạo; ở vùng người Thái Thanh Hoá và Nghệ An - chế độ chủ đất. Các tù trưởng và các chúa đất được gọi là thổ quan. TT bóc lột nông dân trong phạm vi quản lí của mình dưới các hình thức tô lao dịch và tô hiện vật. Chế độ TT ở Việt Nam về cơ bản còn tồn tại cho đến năm 1954.

THỔ TÁNG

một hình thức mai táng của loài người. Trong các hình thức mai táng: hoả táng, thuỷ táng, không táng, TT... thì TT là hình thức phổ biến rộng rãi hơn cả. TT gồm có 2 loại: một loại chôn cất xuống đất vĩnh viễn, trừ phi "mả động", nghĩa là khi trong gia đình xảy ra sự cố gì bất trắc (có người ốm nặng, mất mùa, cửa nhà sa sút, chết bất đắc kì tử...), người ta mới phải cải táng. Một loại chôn xuống đất một thời gian nhất định (tuỳ theo tập tục quy định), sau đó bắt buộc phải cải táng, lần này mới chôn vĩnh viễn.

THỔ DÂN

cư dân bản địa, khác với những người di cư đến sau. TD là những người sinh sống ở một vùng đất hoặc xứ sở nào đó vào lúc nó được phát hiện. Con cháu của họ cũng được gọi là TD. Vd. thổ dân Bắc Mĩ, thổ dân Úc, vv.

THỜ CÚNG TỔ TIÊN

một trong các hình thái tôn giáo sơ khai, thờ cúng và cầu dâng lễ vật linh hồn tổ tiên đã chết, với niềm tin có khả năng gây ảnh hưởng đến đời sống con cháu. Hiện tượng này tồn tại cá biệt ở vài xã hội thị tộc mẫu hệ [người Mêlanêdi (Mélanésie) và Micrônêdi (Micronésie)]. Điển hình hơn cả là ở các xã hội phụ quyền. Chuyển sự phục tùng uy quyền của người chủ gia đình và tù trưởng lúc sống sang sự thần thánh hoá sau lúc họ chết. Trong quá trình tan rã xã hội nguyên thủy xuất hiện thờ cúng tù trưởng bộ lạc và sau đó là vua chúa. Ở một số nơi ngay cả khi còn sống, tù trưởng, vua chúa cũng được thần thánh hoá, còn tổ tiên của họ là những vị thần hùng mạnh. Được duy trì dai dẳng trong xã hội có giai cấp, là cơ sở của Khổng giáo ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước phương Đông. Trong các tài liệu khoa học, được quan niệm rộng rãi hơn, bao gồm sự quan tâm đến người chết, niềm tin vào tổ tiên Tô tem, thờ cúng người bảo hộ thị tộc, vv. Trên thực tế đó là những tín ngưỡng tôn giáo cổ xưa hơn, về sau được hoà nhập vào sự TCTT. TCTT có nhiều hình thức và nhiều cấp độ.

THỔ CÔNG

vị gia thần cai quản gia cư, gia trạch, mảnh đất bếp (thổ địa - thổ kì - ông địa). Đó là gia thần quan trọng nhất và phổ biến trong mọi nhà (các gia thần gồm: TC - táo quân, thần tài, Đức Thánh Quan, Ngũ Hổ, Phật). Bàn thờ TC, sau bát hương là bài vị TC hay ba chiếc mũ mã. Ở giữa là mũ đàn bà, hai mũ đàn ông đặt hai bên, gọi là mũ Ông Công, Ông Táo. Bài vị TC như sau: "Đông trù từ mệnh Táo phủ thần quân Thổ địa lang mạch tông thần ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần". Ba vị TC trông coi ba việc khác nhau: việc bếp núc, việc nhà, việc chợ búa và người, vật trong nhà.