Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

thời kì cải tạo cách mạng xã hội tư bản chủ nghĩa thành xã hội xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền và kết thúc khi xây dựng xong các cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng kinh tế của TKQĐLCNXH là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nhiệm vụ cơ bản của nhà nước trong thời kì quá độ, một mặt là phát huy đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân lao động, chuyên chính với mọi hoạt động chống chủ nghĩa xã hội, mặt khác từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nhiệm vụ này bao gồm: 1) Cải tạo những thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa theo hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng bước phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. 2) Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa chiếm địa vị chủ đạo trong xã hội, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. 3) Đối với những nước kém phát triển, còn phải phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật mà thiếu nó thì không thể có chủ nghĩa xã hội. Thời kì quá độ dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tình hình lịch sử cụ thể của mỗi nước, nhất là vào trình độ xuất phát ban đầu. Trong thời kì đó, việc tiến hành cải tạo xã hội ở từng nước có thể sử dụng những hình thức và phương pháp cụ thể riêng biệt phù hợp với những điều kiện lịch sử, dân tộc, kinh tế, chính trị và văn hoá của mỗi nước. Ở Việt Nam, sau 1975, cả nước bước vào TKQĐLCNXH. Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (6.1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ. Cương lĩnh đã khẳng định tính tất yếu của thời kì quá độ, đề ra những phương hướng cơ bản và những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại trong thời kì đó. Cương lĩnh cũng chỉ rõ, TKQĐLCNXH ở Việt Nam là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kì quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá… phù hợp làm cho Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.

 

Tìm được 1197 bản ghi

POĂNGCARÊ H.

  (Henri Poincaré; 1854 - 1912), nhà toán học, vật lí và triết học Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pari (1887), viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Pêtecbua (1895), viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (1908). Thành tựu chính của ông tập trung vào lĩnh vực giải tích và ứng dụng trong cơ học, vật lí lí thuyết. Tuy nhiên công trình của ông trải ra nhiều ngành của toán học và cơ học, trong đó công trình về bài toán ba vật thể được  giải thưởng của vua Thuỵ Điển (1889). Cuốn “Cơ học thiên thể” gồm 3 tập (1892 - 99) của ông đã mở ra một thời kì mới trong ngành này. Ông đã mở đường cho tôpô đại số và đóng góp quan trọng cho thuyết lượng tử. Độc lập với Anhxtanh A. (A. Einstein) trong công trình “Động học điện từ” (1905), ông đã phát triển những hệ quả toán học từ tiên đề của lí thuyết tương đối.

 



Poăngcarê H.

 

PLÔTINÔT

 (Plôtinos; Ph. Plotin; khoảng 204/205 - khoảng 269/270), nhà triết học duy tâm cổ đại Hi Lạp - La Mã, người sáng lập chủ nghĩa Platôn mới. Plôtinôt sinh ở Ai Cập, từ 242 sống ở La Mã.  Plôtinôt có 54 tác phẩm, do học trò của ông là Poocphuriôt (Porphurios) xuất bản. Triết học của Plôtinôt giải thích thế giới như một quá trình chuyển hoá của ba thực thể, tức là cái tồn tại thực sự và tồn tại độc lập. Bắt đầu là thực thể thống nhất, đây là nguyên lí tinh thần cao nhất, siêu nghiệm; khởi nguyên của thế giới. Cái thống nhất đầy tràn bản thân nó, chuyển hoá thành trí tuệ là tấm gương phản ánh nó, là thế giới của hiểu biết. Trí tuệ chuyển hoá thành linh hồn là “tiếng nói của trí tuệ”. Cuối cùng linh hồn lại trở về hoà hợp với cái thống nhất. Theo Plôtinôt, mục đích cuộc sống của con người là phải từ thế giới cảm tính đi tới sự hoà hợp với khởi nguyên thống  nhất. Mục đích đó đạt được bằng sự kiềm chế những ham mê xác thịt, cũng như bằng sự phát triển sức mạnh tinh thần, trong đó có sức mạnh nhận thức. Ở giai đoạn cao nhất, linh hồn sẽ hợp nhất với Chúa. Học thuyết của Plôtinôt mang nặng tính thần bí, song cũng bao hàm nhiều yếu tố biện chứng (tam thức biện chứng về ba thực thể, sự thống nhất của các mặt đối lập: thống nhất và đa dạng, chủ thể và khách thể, cái riêng và cái chung, vv. ) nên đã có vai trò to lớn trong sự phát triển của phép biện chứng cổ đại.



Plôtinôt

 

PLÊKHANÔP G. V.

(Georgij Valentinovich Plekhanov; 1856 - 1918), nhà triết học Nga, người có công truyền bá chủ nghĩa Mac vào nước Nga, nhà hoạt động phong trào xã hội - dân chủ Nga và quốc tế. Plêkhanôp hoạt động cách mạng từ 1875, đầu tiên gia nhập phái Dân Tuý, đến 1883, thành lập tổ chức macxit Nga đầu tiên ở Thuỵ Sĩ có tên là “Giải phóng lao động”. Plêkhanôp là một trong những người sáng lập Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga và báo “Tia sáng”. Sau đại hội II của Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga, Plêkhanôp trở thành một trong những lãnh tụ của phái mensêvich. Ông có sai lầm lớn là đánh giá không đúng vai trò cách mạng của nông dân và liên minh công nông, coi giai cấp tư sản tự do là đồng minh của giai cấp công nhân; về mặt tư tưởng, chưa dứt khoát thừa nhận quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Trong thời kì Chiến tranh thế giới I, ông đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa xã hội - sôvanh. Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917, ông ủng hộ chính phủ lâm thời tư sản và có thái độ tiêu cực đối với Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, nhưng không ủng hộ lực lượng phản cách mạng. Lênin đánh giá cao hoạt động cách mạng và các tác phẩm của Plêkhanôp cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Những tác phẩm lí luận quan trọng của Plêkhanôp gồm: “Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chính trị” (1883), “Những sự bất đồng của chúng ta” (1885), “Về sự phát triển quan điểm nhất nguyên về lịch sử” (1895), “Khái luận về lịch sử chủ nghĩa duy vật” (1896), “Về quan niệm duy vật lịch sử” (1897), “Về vai trò cá nhân trong lịch sử” (1898), vv.

 



Plêkhanôp G. V.

 

PLATÔN

 (Platôn; 427 - 347 tCn.), nhà triết học Hi Lạp cổ đại, người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan. Platôn coi thế giới các vật cảm tính thường biến đổi là không chân thực, nó đối lập với thế giới các thực thể tinh thần (các ý niệm) bất biến - thế giới của “sự tồn tại chân thực”. Thế giới các ý niệm có trước thế giới cảm tính. Ý niệm “con ngựa” có trước còn con ngựa có sau và chỉ là cái bóng lờ mờ của ý niệm “con ngựa”. Vì thế, nhận thức (tri thức) về thế giới các sự vật cảm tính không thể là nhận thức chân thực. Nhận thức chân lí chỉ có được khi con người thoát li khỏi sự tác động của các vật thể hữu hình (bịt tai, nhắm mắt...) để hồi tưởng về thế giới các ý niệm “tồn tại chân thực” mà linh hồn đã từng chiêm ngưỡng trước khi tạm trú ngụ trong thể xác. Thuyết hồi tưởng thần bí của Platôn được xây dựng trên cơ sở sự đối lập “thế giới ý niệm” với thế giới vật chất xung quanh. Platôn là nhà tư tưởng của giới chủ nô quý tộc. Lí luận của Platôn về “nhà nước lí tưởng” nhằm biện hộ cho sự tồn tại vĩnh cửu của chế độ cộng hoà quý tộc chiếm hữu nô lệ. Các tác phẩm chính: “Pacmêniđêt”, “Xôphixtơ” (Phép biện chứng của các phạm trù), “Timêi” (Triết học tự nhiên), “Nhà nước” “Têêtet” (Lí luận nhận thức), “Biện hộ Xôcratêt”, “Phêđông”, “Pirơ”, “Pheđrơ” (Học thuyết về các ý niệm).



Platôn
Platôn (bên trái) đang giải bài hình học

 

PIAGIÊ J.

(Jean Piaget; 1896 - 1980), nhà tâm lí học, giáo dục học, triết học và lôgic học Thuỵ Sĩ. Một trong những người sáng lập ra môn tâm lí học phát triển, người đề xuất quan điểm thao tác về trí khôn và trí học phát sinh. Chuyên nghiên cứu về tâm lí học tư duy và tâm lí học trẻ em. Dựa trên những tài liệu thực nghiệm trong những năm 30 - 40 thế kỉ 20, Piagiê xây dựng học thuyết về sự hình thành trí tuệ. Học thuyết này coi trí tuệ là hình thức chung nhất của sự phối hợp các hành động bên trong của chủ thể gọi là những thao tác; trí tuệ không phải là một hình thức cố định thuộc về chủ thể, nó cũng không phải được cấu tạo bởi ấn tượng mà thế giới bên ngoài gây ra trên một chủ thể thụ động; nó là sản phẩm của sự tác động qua lại của chủ thể và môi trường; nó có từng cấp phụ thuộc vào giai đoạn và các thời kì được hoà nhập kế tiếp nhau bởi các điều kiện sinh lí của sự phát triển. Những tư tưởng về tâm lí và lôgic của Piagiê được biểu hiện tổng quát trong học thuyết “Tri thức luận phát sinh” (Épistémologie génétique). Ở đó, Piagiê đã trình bày những vấn đề chung về phương pháp luận và lí luận về nhận thức xuất phát từ những kết quả nghiên cứu tâm lí học thực nghiệm và việc sử dụng rộng rãi các phương tiện của lôgic học và toán học hiện đại. Là giáo sư Trường Đại học Xoocbon (Sorbonne; 1950), ông đã thành lập Trung tâm Quốc tế về Tri thức luận Phát sinh (1955), trong đó, các nhà lôgic học, các nhà sinh vật học, các nhà toán học, các nhà tâm lí học đã cộng tác với nhau. Các tác phẩm chính: “Tiếng nói và tư duy trẻ em” (1923), “Khảo luận về lôgic học” (1949), “Nhập môn tri thức luận phát sinh” (1950), “Sinh học và nhận thức” (1967), “Lôgic và nhận thức khoa học” (1967), “Chủ nghĩa cấu trúc” (1968). Ngoài ra, Piagiê còn cùng với Inenđe (B. Inhelder) xuất bản cuốn: “Nguồn gốc của các cấu trúc đơn giản” và cùng với Frexơ (P. Fraisse) xuất bản công trình nhiều tập “Tâm lí học thực nghiệm”. Có Trung tâm lưu trữ Piagiê ở Giơnevơ (Genève; Thuỵ Sĩ).

 



Piagiê J.

 

PHẬT ĐẢN

ngày sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Do lịch pháp và truyền thừa khác nhau, cho nên có nhiều thuyết khác nhau về năm sinh và ngày sinh của Tất Đạt Đa tức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật giáo Bắc Tông theo thư tịch Trung Quốc cho rằng Tất Đạt Đa sinh vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, năm thứ 9 đời Chu Trang Vương (tức năm 668 tCn.). Phật giáo Nam Tông cho rằng Tất Đạt Đa sinh vào ngày trăng tròn tháng Vaisakha năm 623 tCn. nên lấy ngày rằm tháng tư làm PĐ.

 



Phật Đản
Lễ Phật Đản ở Đức Trọng (Lâm Đồng)

 

ĐINTHAY V.

 (Wilhelm Dilthey; 1833 – 1911), nhà triết học Đức. Con một mục sư. Đinthay đưa ra khái niệm các khoa học về tâm linh (geisteswissenschaften), gần đây, được gọi là các "khoa học về con người", khác với các khoa học tự nhiên và khoa học chính xác. Về triết học, mặc dù Đinthay chủ trương, có phương pháp chặt chẽ nhưng không thể chỉ hạn chế nó trong các nguồn trí tuệ suy lí. Theo Đinthay, có tồn tại một trực giác về thế giới con người, văn hoá và xã hội mà người ta có thể lĩnh hội được bằng tâm linh. Những tác phẩm chính: "Nhập môn các khoa học nhân văn" (1883), "Lí luận về thế giới quan", "Thế giới tâm linh".

Các tác phẩm của Đinthay đã có ảnh hưởng đến xã hội học và khoa học tâm lí xã hội sau này.