Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THU QUAY ĐỒNG BỘ

phương pháp thu hình và tiếng cùng một lúc lên phim. Khác với các phương pháp "play - back" (thu tiếng trước, thu hình sau) và lồng tiếng (thu hình trước, thu tiếng sau). Phương pháp TQĐB chỉ thực hiện được khi điều kiện trang âm ở nơi quay (trường quay) đảm bảo và máy quay phim có hộp cách âm để tiếng động bên ngoài cũng như tiếng máy quay không bị thu vào phim. Hiện nay, Việt Nam chưa đủ phương tiện kĩ thuật để áp dụng phương pháp này.

Tìm được 260 bản ghi

XIMÔNÔP K. M.

(Konstantin Mikhajlovich Simonov; 1915 - 79), nhà văn, nhà viết kịch, nhà điện ảnh, nhà hoạt động xã hội Xô Viết, Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa. Bố là sĩ quan Hồng quân; thời trẻ, làm thợ tiện; tốt nghiệp Viện Văn học Goocki (1938); có thơ đăng từ 1934. Trong Chiến tranh thế giới II, là phóng viên báo "Sao đỏ", có mặt ở nhiều chiến dịch quan trọng. Tài năng của ông nở rộ trong những năm chiến tranh. Bài thơ "Đợi anh về" đăng báo "Sự thật" (1942), lập tức được in lại trên hàng chục tờ báo khác, và chép tay chuyền nhau, trở thành người bạn tâm tình của hàng triệu chiến sĩ Hồng quân. Thơ Ximônôp giản dị, chân thực, thể hiện tình cảm của quân dân Liên Xô trong chiến đấu.

Nhân vật trữ tình của ông bao giờ cũng có tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh tổ quốc, niềm tin vững chắc vào nhân dân, chung thuỷ thắm thiết trong tình yêu, tình bạn. Ngoài thơ, Ximônôp có vở kịch "Người Nga", tập truyện "Ngày và đêm" (1943 - 44) là 2 tác phẩm ưu tú của văn học Xô Viết. Sau 1945, Ximônôp tiếp tục viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh: "Bạn chiến đấu", "Những người sống và những người chết", "Người ta sinh ra không phải đã là lính", "Mùa hè cuối cùng". Tập thơ "Bạn và thù" (1948) đậm đà tình cảm quốc tế vô sản đối với các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ, là một trong những thành tựu xuất sắc của thơ Xô Viết sau chiến tranh. Trong thời gian Việt Nam chống Mĩ, Ximônôp đã viết nhiều thơ, tập hợp trong tập "Việt Nam, mùa đông năm bảy mươi", tình cảm thắm thiết, gắn bó. Nhiều phim đã dựng theo kịch và tiểu thuyết của Ximônôp: "Chàng trai thành phố" (1942), "Nhân danh tổ quốc" (1943, theo kịch "Người Nga"), "Đợi anh về" (1943, theo thơ), "Những người sống và những người chết" (1964 - 66), "Nỗi khổ không của riêng ai" (1973), "Người lính bước đi" (1975), vv.

Ximônôp K. M.

TRUNG TÂM QUỐC TẾ ĐIỆN ẢNH CHO THANH THIẾU NIÊN

một trung tâm điện ảnh quốc tế, thành lập năm 1958, với mục đích giúp đỡ và phối hợp quốc tế trong sáng tác điện ảnh và truyền hình dành cho thanh, thiếu niên. Lĩnh vực điện ảnh và truyền hình của TTQTĐACTTN nhằm giáo dục cho thanh thiếu niên về chủ nghĩa nhân đạo, yêu hoà bình, quý trọng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Tổ chức của TTQTĐACTTN đã được ghi trong hiến chương của UNESCO.

Hội đồng điều hành và tổng thư kí của TTQTĐACTTN do Đại hội đồng bầu với nhiệm kì một năm. Uỷ ban Giáo dục Điện ảnh trực thuộc Hội đồng có nhiệm vụ biên soạn tập phim mục "Điện ảnh thiếu nhi", tổ chức các cuộc thi. Uỷ ban Sáng tác có nhiệm vụ hướng dẫn, giúp đỡ và phối hợp sáng tác phim. TTQTĐACTTN xuất bản tin và tập "Điện ảnh trẻ thế giới". Trụ sở: Pari (Pháp).

HOẠ SĨ PHIM

người thể hiện tư tưởng, nghệ thuật tác phẩm bằng nghệ thuật tạo hình; một trong những thành phần sáng tác chủ yếu của bộ phim. Nhiệm vụ quan trọng nhất của HSP là sáng tạo bối cảnh phim (còn gọi là thiết kế mĩ thuật, trang trí điện ảnh). Trên cơ sở kịch bản văn học, HSP phối hợp chặt chẽ với đạo diễn và quay phim, tham gia chọn cảnh tự nhiên, tạo phác thảo cho các bối cảnh chính, tìm trang phục cho diễn viên, đạo cụ cho phim, lập thiết kế và chỉ đạo xây dựng bối cảnh, tạo nên tổng thể hình tượng tạo hình trong trạng thái động trên màn ảnh. Những việc trên có thể do một hoạ sĩ đảm nhiệm, có thể có nhiều trợ lí hoạ sĩ cùng tham gia thực hiện.

Công việc quan trọng nhất của HSP là cải tạo bối cảnh đã có cho phù hợp với nội dung kịch bản và dựng lại hoàn toàn bối cảnh mới tại trường quay bằng những chất liệu nhẹ, đảm bảo tính chân thực của bối cảnh. Khi dựng bối cảnh tại trường quay, HSP phải tính toán để có thể tháo dỡ từng phần bối cảnh, tạo thuận lợi cho việc di động của máy quay.

HSP hoạt hình có vai trò đặc biệt quan trọng, ngoài nhiệm vụ sáng tạo bối cảnh (như ở phim truyện), HSP hoạt hình còn sáng tạo cả nhân vật, từ hình dáng bên ngoài đến động tác, sáng tạo mọi bối cảnh giống thực và hoàn toàn tưởng tượng. Hoạ sĩ chính trong phim hoạt hình là người chủ chốt chỉ đạo các khâu thực hiện khác như diễn xuất, trang trí, dựng cảnh, làm con rối, trổ hình, vẽ nét, tô màu, làm kĩ xảo, hiệu quả quay phim. Phác thảo cảnh phim của HSP có thể được đánh giá như những bức tranh có giá trị nghệ thuật.

HITCÔC A.

(Alfred Hitchcock; 1899 - 1980), đạo diễn điện ảnh Hoa Kì gốc Anh. Làm điện ảnh từ 1920. Nổi tiếng thế giới về phim kinh dị và trinh thám. Sáng tạo nhiều thủ thuật điện ảnh: săn đuổi - treo lửng - lắp lại - gây căng thẳng, pha trộn nhiều thể loại hài, thơ, trữ tình, rất khẩn trương trong nhịp điệu phim, vv. có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật điện ảnh Hoa Kì, Tây Âu và nhiều nước khác. Giải Ôxca (Oscar) về phim "Rêbecca" (1940).

HÂYNÔPXKI V.

(Walter Heynowski; sinh 1927), nhà biên kịch, đạo diễn điện ảnh Cộng hoà Dân chủ Đức. Làm báo từ 1946, làm phim truyền hình từ 1959. Năm 1963, làm phim tài liệu ở xưởng DEFA. Từ 1966, cùng làm phim với đạo diễn Soiman (G. Scheumann). Những phim chính của Hâynôpxki và Soiman: "Người cười" (1966), "Giờ định trước" (1967), "Tổng thống bị phát vãng" (1969), "Vĩnh biệt Uylixơ" (1971), "Chiến tranh xác ướp" (1974), "Tôi đã, đang và sẽ sống" (1975), "Sự bận rộn về tiền bạc" (1975), "Di sản Maye" (1977), "Phượng hoàng" (1979), "Cămpuchia: chết và hồi sinh" (1980), "Ăngko" (1981), "Năm con nhện" (1983), vv. Vốn có cảm tình sâu sắc với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, Hâynôpxki và Soiman đã đến Việt Nam nhiều lần và làm nhiều phim về Việt Nam, trong đó có: "Phi công mặc áo ngủ" (1968), "Đảo quỷ" (1976), "Hạt gạo đầu tiên" (1977), "Thành trì thép" (1977) và những phim khác. Phim của Hâynôpxki và Soiman đã được nhiều giải của Liên hoan phim quốc tế và giải thưởng quốc gia Cộng hoà Dân chủ Đức.

HẬU KÌ

giai đoạn sau cùng trong quy trình sáng tạo một bộ phim: dựng hình ảnh phim, thu thanh tiếng nói, tiếng động, âm nhạc, hoà âm, in ra bản phim đầu hoàn chỉnh.

HÃNG PHIM VÀ CHIẾU BÓNG ĐÔNG DƯƠNG

thành lập năm 1923 với số vốn 3,2 triệu frăng. Chủ hãng là người Pháp, hoạt động theo công ti cổ phần.

HPVCBĐD đã xây dựng một số rạp chiếu bóng đầu tiên như các rạp Palaxơ (Palace), Family (Family) và sau này mở thêm nhiều rạp khác ở khắp ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia.

Bên cạnh việc kinh doanh chiếu bóng và phát hành phim, hãng còn sản xuất phim về đề tài Việt Nam như: "Hội Kiếp Bạc", "Kim Vân Kiều", "Phong cảnh tại kinh đô Huế". Những phim này được sản xuất năm 1924. Phim truyện do đạo diễn và nhà quay phim người Pháp quay tại Việt Nam, diễn viên là người Việt Nam.

HÃNG PHIM

(cg. xưởng phim, xí nghiệp phim), nơi sản xuất các bộ phim. Tuỳ từng loại hình phim, có thể chia thành nhiều HP: hãng phim truyện, hãng phim tài liệu và khoa học, hãng phim hoạt hình, vv. Có khi nhiều loại hình phim được tập trung sản xuất tại một nơi như Hãng phim Giải Phóng (trước kia là Xí nghiệp Phim tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh). Đặc điểm nổi bật của HP là sự phối hợp hai mặt hoạt động của việc tổ chức làm phim: hoạt động sáng tạo nghệ thuật (các tổ nhóm sáng tác, các đoàn làm phim), hoạt động kĩ thuật - sản xuất (các trường quay, xưởng thiết kế, xưởng âm thanh, xưởng in tráng). Làm một bộ phim truyện thường qua 4 bước chính: 1) giai đoạn chuẩn bị kịch bản văn học, kịch bản phân cảnh kĩ thuật, còn gọi là kịch bản đạo diễn; 2) giai đoạn chuẩn bị quay gồm chọn cảnh, phác thảo bối cảnh, chọn và thử diễn viên, lập tổng chi phí và chương trình quay; 3) giai đoạn quay - giai đoạn quan trọng nhất; 4) giai đoạn hậu kì gồm dựng phim, thu nhạc, thu khớp lời, tiếng động hoà âm, in tráng bản đầu. Mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật do đạo diễn phim chỉ đạo, mọi hoạt động về kế hoạch kinh tế do chủ nhiệm phim (hoặc giám đốc sản xuất) điều hành.

HÃM HÌNH

một công đoạn trong quá trình tráng phim ảnh nhằm chấm dứt giai đoạn hiện hình, vì vậy còn gọi là định hình. Thuốc HH là một hỗn hợp hoá chất tan trong nước, có thành phần chủ yếu là chất natrithiosunfat Na2S2O3 (thường gọi là hipo). Tác dụng của thuốc HH là hoà tan những tinh thể halogenua bạc có ở trên vật liệu phim ảnh đen trắng nhưng không bị lộ sáng (khi quay, chụp, in) hoặc hoà tan halogenua bạc mới được tạo thành trong giai đoạn tẩy phim ảnh màu.

HẠ DIỄN

(Xia Yan; tên thật Thẩm Nại Hy; tự Đoạn Tiên; 1900 - 95), nhà biên kịch kiêm lí luận phê bình điện ảnh Trung Quốc. Tốt nghiệp đại học ở Nhật Bản. Về nước tham gia Bắc phạt và bắt đầu sáng tác. Tháng 7.1920, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một trong những người lãnh đạo Hội Điện ảnh Trung Quốc (thành lập năm 1933) và Hiệp hội Điện ảnh Kháng địch toàn quốc (thành lập năm 1938). Tác giả kịch bản nhiều phim nổi tiếng trước giải phóng như "Dòng chảy dữ dội" (1933), "Hai mươi tư giờ ở Thượng Hải" (1933), "Tầm xuân" (1933) và sau giải phóng như "Cầu phúc" (1957), "Cửa hàng họ Lâm" (1959), "Gia đình cách mạng" (1960). Sau 1949, lãnh đạo cơ quan văn hoá Thượng Hải; từ 1955, là thứ trưởng Bộ Văn hoá. Trong "Cách mạng văn hoá", bị thanh trừng. Sau 10 năm bị đầy đoạ, năm 1979, Hạ Diễn mới được phục hồi và là cố vấn cho Bộ Văn hoá.