Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THU QUAY ĐỒNG BỘ

phương pháp thu hình và tiếng cùng một lúc lên phim. Khác với các phương pháp "play - back" (thu tiếng trước, thu hình sau) và lồng tiếng (thu hình trước, thu tiếng sau). Phương pháp TQĐB chỉ thực hiện được khi điều kiện trang âm ở nơi quay (trường quay) đảm bảo và máy quay phim có hộp cách âm để tiếng động bên ngoài cũng như tiếng máy quay không bị thu vào phim. Hiện nay, Việt Nam chưa đủ phương tiện kĩ thuật để áp dụng phương pháp này.

Tìm được 260 bản ghi

VIXCÔNTI L.

(Lucino Visconti; 1906 - 76), đạo diễn điện ảnh Italia. Những năm 1935 - 36, sang Pháp làm trợ lí cho đạo diễn Pháp Rơnoa (J. Renoir; 1894 - 1979), sau đó, về nước làm phim. Là chiến sĩ đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bị chế độ độc tài Muxôlini (B. Mussolini) bắt giam, sau tình cờ được giải thoát khi bị xử bắn. Phim của Vixcônti mang nội dung tiến bộ, chân thực, được nhiều giải tại các liên hoan phim quốc tế. Một trong những nhà đạo diễn đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực mới của điện ảnh Italia. Những phim nổi tiếng: "Đất rung chuyển" (1948); "Anh em nhà Rôccô" (Giải đặc biệt Liên hoan phim Vơnidơ, Italia, 1960); "Ghêpac" (Giải Cành cọ vàng Liên hoan phim Can, Pháp, 1963); "Chùm sao hùng tinh trong sương mù" (Giải thưởng lớn Liên hoan phim Vơnidơ, Italia, 1965); "Chết ở Vơnidơ" (Giải thưởng đặc biệt Liên hoan phim Can, Pháp, 1971).

VAIĐA A.

(Andzej Wajda; sinh 1926), đạo diễn điện ảnh Ba Lan. Phim đầu tay của Vaiđa "Thế hệ" (1955) nói về hoạt động bí mật của nhóm công nhân trẻ chống phát xít. Nội dung chính trong sáng tác thời kì đầu của Vaiđa là chất anh hùng và tính bi kịch của Chiến tranh thế giới II, như "Cống ngầm" (1957), "Tro tàn và kim cương" (1958), "Xămxơn" (1961), vv. Ông chuyển thể nhiều tác phẩm văn học cổ điển của Ba Lan như "Đống tro" của Jêrômxki (Żheromski, 1965), "Lễ cưới" của Vưxpianxki (Vyspjanski; 1973), "Đất màu mỡ" của Rơmông (V. Remont, 1975), vv. Hoặc đề cập con người trong các vấn đề xã hội đương đại như các phim "Những kẻ quyến rũ vô tội" (1960), "Tất cả đều đem bán" (1969), "Nhạc trưởng" (1979), vv. Đoạt nhiều giải thưởng trong các liên hoan phim quốc tế. Từ nửa cuối những năm 70 thế kỉ 20, sáng tác của Vaiđa bộc lộ rõ khuynh hướng chống chủ nghĩa xã hội như "Con người bằng đá" (1976), "Không gây tê" (1978) và "Con người bằng thép" (1981). Vaiđa còn làm phim "Đăngtông" (1983) dựa theo kịch của Psibưsepxkaia (Pshibyshevskaja) suy ngẫm lại sự kiện Cách mạng Pháp.


 

TRƯỜNG QUAY

nội thất chuyên dùng để thực hiện những cảnh quay, có đủ điều kiện để dựng bối cảnh trang trí và đặt ánh sáng đèn. Những TQ lớn có thể dựng được cả dãy phố hoặc thiết kế 2, 3 bối cảnh quay cùng một lúc. Thiết kế và xây dựng TQ phải tuân thủ những quy tắc nhất định, phù hợp với điều kiện kĩ thuật âm thanh và ánh sáng của điện ảnh (có hệ thống chiếu sáng, cách âm để thu quay đồng bộ, vv.).

Trước đây, nhiều nhà điện ảnh (phần lớn là các nhà điện ảnh Hoa Kì) chủ trương dựng cả những cảnh thiên nhiên (sông, suối, rừng cây...) trong TQ để chủ động về thời tiết và kế hoạch, thực hiện trọn vẹn ý định nghệ thuật của đạo điễn. Ngày nay, nhiều đạo diễn lại thích quay bối cảnh thực vào phim, không dựng cảnh trong TQ để đảm bảo tính chân thực cho tác phẩm và tiết kiệm về kinh tế.

 

TRÁNG PHIM

một khâu quan trọng trong gia công phim làm cho hình ảnh sau khi phim đã lộ sáng (quay in) được hiện lên. TP bằng hộp, bằng guồng hoặc bằng máy. Phim điện ảnh thường được tráng bằng máy. Máy TP có một hệ thống các hồ thuốc và các hồ nước rửa nằm giữa các hồ thuốc và trước tủ sấy. Quá trình TP đen trắng bao gồm hai khâu chủ yếu là hiện hình và hãm hình; trong khi ở phim màu phải qua các khâu quan trọng: hiện hình, ngưng hình, tẩy và hãm hình. Những bộ phim điện ảnh tài liệu 16mm lần đầu tiên được tráng ở Việt Nam bằng guồng vào cuối những năm 40 thế kỉ 20. Bộ phim màu được tráng lần đầu tiên ở Việt Nam bằng máy tự chế (1967) là bộ phim hoạt hình 35 mm. Hiện nay, điện ảnh có những máy tráng tương đối hiện đại, có thể tráng tất cả các loại phim.

TƠRUYFÔ F.

(François Truffaut; 1932 - 84), đạo diễn điện ảnh Pháp. Một trong những nhà điện ảnh nổi tiếng của trào lưu "Làn sóng mới" trong điện ảnh Pháp. Những phim chính: "Bốn trăm cú" (1959, giải Liên hoan phim Can); "Cái hôn vụng trộm" (1968, giải Mêliet, giải lớn của điện ảnh Pháp), "Bắn vào người chơi dương cầm" (1960), "Gluyn và Dim" (1962, phim hay nhất của Tơruyfô), "Đêm Mĩ" (1973, giải Ôxca), "Làn da mịn màng" (1964), "Chuyện về Ađelơ" (1975), "Chuyến tàu điện ngầm cuối cùng" (1980). Năm 1989, phim của Tơruyfô được chiếu có hệ thống tại Liên hoan phim Matxcơva để tưởng nhớ một tài năng điện ảnh.

TƠRƠNKA J.

Jiři Trnka; 1912 - 69), hoạ sĩ, đạo diễn phim hoạt hình người Tiệp Khắc. Nghệ sĩ nhân dân Tiệp Khắc (1963). Đầu những năm 40 thế kỉ 20, làm hoạ sĩ ở nhà hát, vẽ minh hoạ sách trẻ em. Làm phim từ 1945, lãnh đạo Xưởng hoạt hình "Anh em bộ ba" ở Praha, sáng lập trường phái phim búp bê và điện ảnh thiếu nhi Tiệp Khắc. Đầu tiên làm các phim hoạt hoạ "Con vật và những tên kẻ cướp" (giải thưởng ở Liên hoan phim Can), "Quà tặng" (1946). Năm 1947, làm bộ phim búp bê đầu tiên "Spalitrec" (5 tập) - tác phẩm có tính chất cương lĩnh, được đánh giá là "thiên sử thi về cuộc sống dân tộc", trong đó bộc lộ chất fônklo sâu sắc, các phong tục, hội hè dân gian, sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên (phim được tặng nhiều giải thưởng quốc tế). Nhiều phim khác của Tơrơnka

 

Tơrơnka J.

"Hoàng tử Baiaia" (1950)

 

cũng đoạt các giải thưởng quốc tế như "Chim hoạ mi của hoàng đế" (1948), "Hoàng tử Baiaia" (1950), "Những truyền thuyết cổ Tiệp Khắc" (1953), vv. Khi chuyển thể truyện "Cuộc phiêu lưu của chú lính Svêch" (1955), Tơrơnka nêu bật chất hài hóm hỉnh của nguyên tác. Đặc biệt "Giấc mộng đêm hè" [1959; theo Sêchxpia (W. Shakespeare), giải thưởng chính Liên hoan phim Can, giải Liên hoan phim Vơnidơ] được Tơrơnka thể hiện bằng ngôn ngữ thi vị, ca ngợi tình yêu và tuổi trẻ. Tơrơnka còn đề cập những vấn đề hiện đại trong các phim "Sự đam mê" [(1961, giải thưởng chính Liên hoan phim Ôbechaozen, 1964)], "Bà già người máy" (1962), vv.

 

 

 

 

TÔNG PHIM

trong lĩnh vực âm thanh, tông được xác định bởi tần số dao động của âm thanh được phát ra. Tông màu là định tính chất lượng màu, qua đó người ta có thể phân biệt nó với những màu khác (đỏ, xanh, tím, vv.). TP là cấp độ sáng tối hay cấp độ màu của bộ phim. Nó liên quan không chỉ đến màu của những chất màu mà liên quan đến cả tia chiếu sáng. TP dùng để đánh giá chất lượng kĩ thuật của hình ảnh trên diện tích khuôn hình. Nếu hình ảnh có tông sáng, thường được gọi là TP cao, ngược lại tông của hình ảnh tối gọi là tông thấp. Về màu sắc, TP thường được chia thành tông nóng và tông lạnh. Tông nóng liên quan đến các màu: đỏ, da cam, vàng và vàng xanh với các sắc độ và các độ no màu khác nhau. Tông lạnh gồm các màu tím, lam, lục, xanh da trời. Màu hồng không có trong cấu tạo quang phổ cũng thường được gọi là tông lạnh.


TIXÊ E. K.

(duard Kazimirovich Tiss; 1897-1961), nhà quay phim Xô Viết, Nghệ sĩ ưu tú Cộng hoà Liên bang Nga và Cộng hoà Latvia. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ 1918 đến 1923, quay những hoạt động của Lênin. Quay chính trong nhiều phim nổi tiếng của đạo diễn Âyzenxtêin (S. M. Ejzenshtejn) như "Chiến hạm Pôtiômkin" (1925), "Tháng Mười" (1927), "Alêchxanđrơ Nepxki" (1938), "Ivan bạo chúa" (1945 - 58). Giáo sư Trường Đại học Điện ảnh Liên Xô (VGIK).

THU QUAY ĐỒNG BỘ

phương pháp thu hình và tiếng cùng một lúc lên phim. Khác với các phương pháp "play - back" (thu tiếng trước, thu hình sau) và lồng tiếng (thu hình trước, thu tiếng sau). Phương pháp TQĐB chỉ thực hiện được khi điều kiện trang âm ở nơi quay (trường quay) đảm bảo và máy quay phim có hộp cách âm để tiếng động bên ngoài cũng như tiếng máy quay không bị thu vào phim. Hiện nay, Việt Nam chưa đủ phương tiện kĩ thuật để áp dụng phương pháp này.

THONĐIKƠ A.

(Andre Thorndike; 1909 - 79), một trong những người sáng lập và là chủ tịch Hội Điện ảnh và Vô tuyến Truyền hình Cộng hoà Dân chủ Đức, viện sĩ Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức. Từ cuối những năm 40 thế kỉ 20, làm đạo diễn phim tài liệu tại hãng DEFA. Những phim chính: "Ngày 13 tháng 10", "Từ Hambua đến Stranđung" (1949), "Đường lên cao" (1950), "Vinhem Pich - cuộc đời của chủ tịch chúng ta" (1951, giải thưởng Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức), "Tình hữu nghị chiến thắng" (về liên hoan thanh niên thế giới ở Beclin, 1951). Từ 1953 trở đi, cộng tác cùng với vợ là Anneli Thonđikơ làm một số phim: "Cuộc thử thách" (1953), "Bảy người từ Râynơ" (1954), "Anh và người đồng chí" (1956), "Chiến dịch cây kiếm Teptôn" (giải chính Liên hoan phim Caclôvi Vari, 1958). Phần lớn những phim họ làm đều sử dụng nguồn phim tư liệu lưu trữ và khai thác những sự kiện lịch sử rất có hiệu quả. Đặc biệt bộ phim hai tập "Sự kì diệu Nga" (1963), diễn đạt một cách hình tượng lịch sử đất nước Xô Viết, trở thành tác phẩm điện ảnh có giá trị. Phim "Nhật kí người phụ nữ Đức" (giải thưởng Liên hoan phim Matxcơva, 1969). Với sáng tác "Sự kì diệu Nga", Thonđikơ được tặng Huân chương Lênin và giải thưởng Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức.