Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THỦ TƯỚNG

chức danh người đứng đầu chính phủ ở nhiều nước trên thế giới. TT Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. TT Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chủ tịch nước.

Theo điều 114, 115, Hiến pháp (1992), TT Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1) Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ; 2) Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; 3) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức chủ tịch, các phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 4) Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên; 5) Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ; 6) Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh và quyết định của chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định; TT Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ thì TT Chính phủ phải đưa ra Chính phủ thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Luật tổ chức Chính phủ (2001) nêu các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ công tác của TT Chính phủ với Chính phủ và các cơ quan hữu quan.

Tìm được 322 bản ghi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiền thân của TANDTC ngày nay là Toà án Tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được lập ra theo Hiến pháp 1946. Từ khi có Hiến pháp 1959 đến nay, Toà án Tối cao được đổi tên là TANDTC.

Cơ cấu tổ chức của TANDTC gồm có: a) Hội đồng thẩm phán TANDTC; b) Toà án Quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm TANDTC; trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các toà án chuyên trách theo đề nghị của chánh án TANDTC; c) Bộ máy giúp việc TANDTC có chánh án, các phó chánh án, thẩm phán và thư kí toà án.

TANDTC có những nhiệm vụ và quyền hạn: 1) Hướng dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các toà án; 2) Giám đốc việc xét xử của các toà án các cấp, của toà án đặc biệt và các toà án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập các toà án đó; 3) Trình Quốc hội dự án luật và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật. TANDTC có thẩm quyền xét xử: 1) Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; 2) Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. TANDTC quản lí các toà án nhân dân địa phương và toà án quân sự về tổ chức, có sự phối hợp chặt chẽ với hội đồng nhân dân địa phương (đối với toà án nhân dân địa phương) và với Bộ Quốc phòng (đối với toà án quân sự).


TOÀ ÁN NHÂN DÂN

cơ quan xét xử của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. TAND gồm có: TAND tối cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các toà án quân sự. Các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hôn nhân và gia đình và những việc khác do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. TAND có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa, tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

TOÀ ÁN BINH

các toà án được tổ chức để đảm nhiệm công tác xét xử hình sự trong quân đội từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến 1946 đến 1960. Các TAB có thẩm quyền xét xử những quân nhân phạm tội và bất cứ người nào có hành vi phạm tội làm thiệt hại đến quân đội. TAB tổ chức ở các khu hay liên khu. Ngoài ra, còn có các TAB khu trung ương để xét xử các nhân viên phạm tội thuộc các cơ quan trung ương của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy kể cả các cấp từ trung đoàn trưởng trở lên (Sắc lệnh ngày 5.7.1947). Hội đồng xét xử của TAB gồm chánh án và các hội thẩm đều là quân nhân; làm nhiệm vụ công tố là một quân nhân khác với tên gọi là uỷ viên Chính phủ. Tại những địa điểm đang tác chiến, khi cần thiết, theo thông lệnh của Bộ Quốc phòng số 60, ngày 28.5.1947, và quyết định của người chỉ huy từ cấp trung đoàn trưởng trở lên đã thành lập các Toà án binh Mặt trận để xét xử bất kì người nào quả tang phạm vào một trong các tội: phản quốc, gián điệp, cướp bóc, nhũng nhiễu dân chúng ở những địa điểm đó. Khi xét xử, thành phần Toà án binh Mặt trận gồm: một chánh án là người chỉ huy quân sự từ cấp trung đoàn trưởng trở lên hoặc người thay mặt, 2 hội thẩm quân nhân, một là chính trị viên, một là quân nhân của đơn vị nơi xảy ra vụ phạm tội. Toà án binh Mặt trận có quyền tuyên phạt đến tử hình. Từ khi ban hành Hiến pháp năm 1959 đến nay, các TAB được thay đổi tên gọi mới là Toà án Quân sự nằm trong hệ thống thống nhất các toà án của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

TOÀ ÁN

cơ quan thực hiện quyền tư pháp của một nhà nước, thực hiện chức năng xét xử. Ở các nước theo chế độ "tam quyền phân lập", quyền lập pháp thuộc về nghị viện, quyền hành pháp thuộc chính phủ (nội các), quyền tư pháp thuộc về TA.

Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hiến pháp năm 1992 quy định tại điều 127: "Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Hệ thống TA nhân dân ở Việt Nam hiện nay được tổ chức theo các cấp hành chính từ cấp huyện trở lên, gồm: TA nhân dân tối cao, TA nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA nhân dân cấp huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh và các TA quân sự.

TA xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi chức năng của mình, TA có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bằng hoạt động của mình, TA góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. Việc xét xử của TA nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, việc xét xử của TA quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử.

TỈNH UỶ

ban chấp hành đảng bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (chương IV): TU do đại hội đại biểu đảng bộ cấp tỉnh bầu ra với nhiệm kì 5 năm. Số lượng tỉnh uỷ viên cần bầu do đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Sau khi được đại hội bầu ra, TU họp phiên đầu tiên, bầu ban thường vụ, bầu bí thư, bầu các phó bí thư trong số các uỷ viên ban thường vụ đã bầu, bầu uỷ ban kiểm tra và chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra trong số các uỷ viên uỷ ban kiểm tra đã bầu. Số lượng uỷ viên ban thường vụ, phó bí thư, uỷ viên uỷ ban kiểm tra do TU quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. TU có nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ cấp tỉnh; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Hội nghị TU do ban thường vụ triệu tập 3 tháng một lần; họp bất thường khi cần.

TỈNH

đơn vị hành chính ở nhiều nước trên thế giới. Sự phân định toàn bộ lãnh thổ quốc gia thành các T căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó thường có những yếu tố về cấu tạo địa hình, sự phân cách các dòng sông, các dãy núi, đèo, đặc điểm các vùng dân cư sinh sống lâu đời. Ở Việt Nam, T là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, được hình thành từ thời nhà Nguyễn (giữa thế kỉ 19) và tồn tại cho tới ngày nay. Cấp T thực hiện nhiệm vụ quản lí, điều hành đối với các đơn vị hành chính cấp phủ, huyện (nhỏ hơn phủ) trước đây (nay là huyện, quận, thành phố, thị xã trực thuộc T). Năm 1831, vua Minh Mạng ban lệnh đổi các dinh, trấn ở phía bắc phủ Thừa Thiên thành 18 T: Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Năm 1832, nhà vua tiếp tục ban lệnh đổi các dinh trấn phía nam thành 12 T: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Trong thời kì này, cả nước có 30 T và phủ Thừa Thiên.

Trải qua nhiều lần chia tách, sáp nhập địa giới hành chính cấp T, tính đến cuối năm 2003, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và 59 T. Mỗi T, thành phố trong cả nước có diện tích bình quân là gần 5.200 km2, có dân số bình quân là trên 1,26 triệu người. T Nghệ An có diện tích lớn nhất (16.490 km2). T Bắc Ninh có diện tích nhỏ nhất (805 km2). Thành phố Hồ Chí Minh có số dân trung bình nhiều nhất (trên 5,55 triệu người). T Bắc Kạn có số dân trung bình ít nhất (trên 291.700 người).


 

 

THỦ TƯỚNG

chức danh người đứng đầu chính phủ ở nhiều nước trên thế giới. TT Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. TT Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chủ tịch nước.

Theo điều 114, 115, Hiến pháp (1992), TT Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1) Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ; 2) Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; 3) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức chủ tịch, các phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 4) Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên; 5) Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ; 6) Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh và quyết định của chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định; TT Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ thì TT Chính phủ phải đưa ra Chính phủ thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Luật tổ chức Chính phủ (2001) nêu các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ công tác của TT Chính phủ với Chính phủ và các cơ quan hữu quan.

THỦ TRƯỞNG

người đứng đầu (chỉ huy hay quản lí) đơn vị quân đội hay cơ quan hành chính; chức danh do TT cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp bổ nhiệm; chịu trách nhiệm quản lí nhà nước về lĩnh vực, ngành mình được phân định thẩm quyền phụ trách. TT cơ quan hành chính có quyền ban hành hoặc kiểm tra việc thi hành các văn bản pháp quy theo luật định, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở các tổ chức trực thuộc, các địa phương và cơ sở thuộc hệ thống ngành quản lí.

TT cơ quan hành chính chịu sự giám sát của cán bộ, công chức trong cơ quan và chịu sự quản lí, lãnh đạo của cấp trên. TT cơ quan hành chính ở các ngành, các cấp phải thường xuyên giám sát, kiểm tra, theo dõi hoạt động và đánh giá kết quả công tác của cán bộ, công chức dưới quyền; kịp thời biểu dương khen thưởng những cán bộ, công chức thực thi tốt nhiệm vụ được giao; uốn nắn và xử lí nghiêm minh những người gây phiền hà, nhũng nhiễu, vô trách nhiệm trong khi giải quyết công việc của công dân và tổ chức.

Trong lực lượng vũ trang, thường được dùng khi xưng hô, chỉ người có cấp bậc quân hàm, chức vụ cao hơn đối với người đang nói (viết).

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

chức danh người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thành viên của Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiền thân là tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (1951), tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1960). TĐNHNN có nhiệm vụ và quyền hạn của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ được quy định tại điều 23 Luật tổ chức Chính phủ (2001) và quy định tại điều 11 Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1997) với các nội dung chủ yếu: 1) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước được quy định tại Luật tổ chức Chính phủ và Luật ngân hàng; 2) Chịu trách nhiệm trước thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực mà mình phụ trách; 3) Đại diện pháp nhân Ngân hàng Nhà nước. TĐNHNN là uỷ viên thường trực của Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia.

THỐNG ĐỐC

chức danh của người đứng đầu bộ máy cai trị ở xứ thuộc địa Nam Kỳ thuộc Pháp, xuất hiện sau Hiệp ước 5.6.1862 được kí giữa đại diện Chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn khi Pháp chiếm được 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Biên Hoà, Định Tường. TĐ đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp. Khi Liên bang Đông Dương được thành lập ngày 17.10.1887, TĐ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của toàn quyền Đông Dương và theo Sắc lệnh ngày 20.10.1911 của tổng thống Pháp, TĐ Nam Kỳ có nhiệm vụ: thay mặt toàn quyền Đông Dương để trực tiếp cai trị Nam Kỳ, chịu trách nhiệm trước toàn quyền Đông Dương về mọi mặt; có quyền lập quy, hành chính và tư pháp; thông qua mạng lưới các quan cai trị là chủ tỉnh người Pháp, nắm mọi hoạt động từ cấp tỉnh trở xuống. TĐ Nam Kỳ là chủ tịch Hội đồng Tư mật Nam Kỳ, uỷ viên Hội đồng Tối cao Đông Dương (từ năm 1911 là Hội đồng Chính phủ Đông Dương).

TĐ cũng là chức danh người đứng đầu ngành Ngân hàng Nhà nước gọi là TĐ Ngân hàng Nhà nước. Ở một số nước theo thể chế liên bang, TĐ là chức danh người đứng đầu một bang gọi là TĐ bang (Hoa Kì, Canađa, vv.).