Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THUẾ TÀI NGUYÊN

loại thuế đánh vào các thể nhân và pháp nhân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản...). Tiền thu từ TTN sẽ được nộp cho ngân sách nhà nước. TTN nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lí, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường đồng thời đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, các quy định về việc đóng, thu TTN được quy định rõ trong Pháp lệnh thuế tài nguyên của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 7.1.1991. Theo đó, các đối tượng tính TTN là: 1) Tài nguyên khoáng sản kim loại và không kim loại, kể cả đá, cát, sỏi và đất làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; 2) Sản phẩm của rừng tự nhiên như gỗ, củi, sản phẩm khác của rừng; 3) Cá và các loại thuỷ sản tự nhiên khác. Tất cả các tổ chức, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cá nhân thực hiện các hoạt động có khai thác và sử dụng các loại tài nguyên nêu trên đều phải đóng TTN, trừ các cơ quan, xí nghiệp khai thác sản phẩm rừng tự nhiên mà có đóng tiền nuôi rừng theo quy định của Nhà nước và các xí nghiệp khai thác các nguồn nước tự nhiên trừ nguồn nước dùng cho sản xuất thuỷ điện. Mức thuế được quy định bằng số tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài nguyên đã khai thác và sử dụng. Căn cứ tính thuế dựa vào sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế của một đơn vị sản phẩm và thuế suất.

 

 

Tìm được 323 bản ghi

THUẾ TÀI NGUYÊN

loại thuế đánh vào các thể nhân và pháp nhân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản...). Tiền thu từ TTN sẽ được nộp cho ngân sách nhà nước. TTN nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lí, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường đồng thời đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, các quy định về việc đóng, thu TTN được quy định rõ trong Pháp lệnh thuế tài nguyên của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 7.1.1991. Theo đó, các đối tượng tính TTN là: 1) Tài nguyên khoáng sản kim loại và không kim loại, kể cả đá, cát, sỏi và đất làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; 2) Sản phẩm của rừng tự nhiên như gỗ, củi, sản phẩm khác của rừng; 3) Cá và các loại thuỷ sản tự nhiên khác. Tất cả các tổ chức, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cá nhân thực hiện các hoạt động có khai thác và sử dụng các loại tài nguyên nêu trên đều phải đóng TTN, trừ các cơ quan, xí nghiệp khai thác sản phẩm rừng tự nhiên mà có đóng tiền nuôi rừng theo quy định của Nhà nước và các xí nghiệp khai thác các nguồn nước tự nhiên trừ nguồn nước dùng cho sản xuất thuỷ điện. Mức thuế được quy định bằng số tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài nguyên đã khai thác và sử dụng. Căn cứ tính thuế dựa vào sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế của một đơn vị sản phẩm và thuế suất.

 

 

THUẾ MÔI TRƯỜNG

    loại thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh, sản xuất, khai thác và chế biến có gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường. Từng nước có các quy định biểu thuế riêng cho nước mình tuỳ theo chính sách của từng nước, nhưng nhìn chung ở tất cả các nước tiền thu được từ TMT đều được nộp vào ngân sách nhà nước để dùng cho các hoạt động của chính phủ.

THỦ TỤC ĐO

    tập hợp các thao tác được mô tả chi tiết để thực hiện phép đo cụ thể theo một phương pháp đã cho. TTĐ thường được ghi trong một tài liệu; chính tài liệu này được gọi là "TTĐ" (hoặc phương pháp đo) và thông thường là đủ chi tiết để người thao tác có thể tiến hành phép đo không cần thêm thông tin khác.

 

THỦ TỤC

    (tiêu chuẩn hoá), cách thức đã định để thực hiện một hoạt động. Trong nhiều trường hợp, TT thường được trình bày dưới dạng văn bản (vd. các TT của một hệ chất lượng). TT dạng văn bản thường bao gồm những mục đích và phạm vi của hoạt động, điều gì cần phải làm, ai làm; làm khi nào, ở đâu và như thế nào; nguyên vật liệu, thiết bị, tài liệu gì được sử dụng; hoạt động được kiểm soát là lập hồ sơ như thế nào.

THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG

ngành có chức năng phổ biến nhanh chóng và rộng khắp các tin tức, sự kiện mới nhất có liên quan đến môi trường, như: hiện trạng môi trường, chất lượng môi trường, các kết quả nghiên cứu khoa học - kĩ thuật nhằm cải tạo môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường. Đối tượng của ngành TTMT gồm: 1) Cộng đồng dân cư, quần chúng, các cá nhân, tổ chức sử dụng tài nguyên thiên nhiên, những người có quyền được biết và rất mong muốn nắm bắt được những thông tin cần thiết về chất lượng, hiện trạng và diễn biến của môi trường họ đang sống. TTMT cho đại chúng cần phải đạt được các mục tiêu chính: a) Giúp cho cộng đồng thấy rõ được vai trò, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường; b) Nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường; c) Lôi kéo sự tham gia và hỗ trợ của đông đảo quần chúng vào các hoạt động bảo vệ môi trường. 2) Những tổ chức, cá nhân (giám đốc doanh nghiệp, nhà quản lí, nhà hoạch định chính sách...) có quyền ra quyết định về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường cũng như hệ sinh thái. TTMT hỗ trợ cho công tác ra quyết định này phải đạt mục tiêu cung cấp cho người dùng tin những thông tin rõ ràng, đầy đủ, khoa học về mọi mặt của môi trường (hiện trạng, chất lượng, khả năng chịu được của môi trường, rủi ro, sự cố, vv.) khi họ có nhu cầu; trên cơ sở đó mới có được những quyết định và chính sách sáng suốt, đúng đắn, ưu việt về sử dụng tài nguyên môi trường. Để tăng cường hơn nữa tác dụng và hiệu quả của TTMT trong công tác bảo vệ môi trường, cần phải xác định đúng nhu cầu của người dùng tin; có phương pháp thu thập, xử lí và phổ biến thông tin phù hợp với nhu cầu của người dùng; có phương pháp lưu trữ, sắp xếp và quản lí thông tin một cách khoa học và hiệu quả. Hiện nay, đa số các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực môi trường (Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc UNEP...) đều cho rằng cơ chế trao đổi TTMT hợp lí và tốt sẽ góp phần tạo nên những thành tựu đáng kể trong sự nghiệp phát triển bền vững trên toàn thế giới. Rất nhiều sáng kiến và nỗ lực quốc tế đã được thực hiện nhằm xây dựng một hệ thống TTMT thống nhất và hữu hiệu với quy mô toàn cầu.

THỜI HẠN HIỆU LỰC

khoảng thời gian mà một tài liệu quy chuẩn (x. Tài liệu quy chuẩn) có giá trị, tính từ ngày có hiệu lực do một cơ quan có trách nhiệm (thẩm quyền) quyết định đến khi bị thay thế hoặc huỷ bỏ.

THỜI GIAN HƯỞNG ỨNG

khoảng thời gian giữa thời điểm mà kích thích phải chịu một sự thay đổi đột ngột đã định và thời điểm mà hưởng ứng đạt đến và nằm trong giới hạn đã định quanh giá trị ổn định cuối cùng của nó.

THOẢ ƯỚC MAĐRIT về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hoá

thoả ước quốc tế được kí tại Mađrit (Tây Ban Nha) ngày 14.4.1891, được sửa đổi tại Bruxen (Bỉ, 1900), Oasinhtơn (Hoa Kì, 1911), La Hay (La Haye; Hà Lan, 1925), Luân Đôn (Anh, 1934), Nixơ (Nice; Pháp, 1957), Xtôckhôm (Thuỵ Điển, 1967), vv. Đến 15.7.2004, đã có 77 nước tham gia Thoả ước Mađrit. Mục đích: đơn giản hoá việc làm thủ tục xin bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại các nước thành viên của công dân một nước thành viên khác thông qua việc đăng kí nhãn hiệu hàng hoá tại Văn phòng Quốc tế của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Việt Nam tham gia từ 8.3.1949.

THOẢ THUẬN THỪA NHẬN

thoả thuận dựa trên sự chấp nhận của một bên các kết quả nhận được từ việc thực hiện một hoặc nhiều yếu tố chức năng của một hệ thống đánh giá sự phù hợp do một bên khác đưa ra, vd. các thoả thuận thử nghiệm, thoả thuận kiểm tra và thoả thuận chứng nhận. Những TTTN có thể được thiết lập ở cấp quốc gia, khu vực hoặc quốc tế. Một thoả thuận chỉ hạn chế bằng tuyên bố tương đương về thủ tục mà thiếu sự chấp nhận về kết quả thì không phải là TTTN.

THOẢ THUẬN SONG PHƯƠNG

thoả thuận thừa nhận bao gồm việc chấp nhận của cả hai bên các kết quả của nhau.