Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

thuế thu vào hàng hoá xuất hay nhập khẩu. Thuế nhập khẩu thu vào hàng đem từ nước ngoài vào trong nước để tiêu dùng. Khi cần bảo vệ sản xuất và tiêu dùng hàng nội địa, người ta đánh thuế vào những hàng nhập thật cao nhằm ngăn chặn hàng hoá của nước ngoài xâm nhập vào. Ngược lại, muốn khuyến khích đưa hàng hoá từ nước ngoài vào thị trường trong nước, người ta không thu hoặc thu rất ít. Thuế xuất khẩu thu vào hàng xuất ra nước ngoài. Những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu được hưởng mức thuế rất thấp, hoặc không thu, thậm chí có trợ giá xuất khẩu.

Tìm được 1884 bản ghi

THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

thuế thu vào hàng hoá xuất hay nhập khẩu. Thuế nhập khẩu thu vào hàng đem từ nước ngoài vào trong nước để tiêu dùng. Khi cần bảo vệ sản xuất và tiêu dùng hàng nội địa, người ta đánh thuế vào những hàng nhập thật cao nhằm ngăn chặn hàng hoá của nước ngoài xâm nhập vào. Ngược lại, muốn khuyến khích đưa hàng hoá từ nước ngoài vào thị trường trong nước, người ta không thu hoặc thu rất ít. Thuế xuất khẩu thu vào hàng xuất ra nước ngoài. Những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu được hưởng mức thuế rất thấp, hoặc không thu, thậm chí có trợ giá xuất khẩu.

THUẾ TRỰC THU

loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân; người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho nhà nước. Gồm có: thuế lợi tức, thuế thu nhập công ti, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế quà biếu, quà tặng. Thuế này có tính công bằng hơn thuế gián thu, vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng. TTT cũng có nhược điểm là hạn chế phần nào sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng, vì thu nhập càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều. Ngoài ra, TTT do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà nước, nên họ cảm nhận ngay được gánh nặng về thuế và có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn, lậu thuế. Việc quản lí thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu. Xt. Thuế gián thu.

THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa đặc biệt do các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam. Thuế này do các cơ sở trực tiếp sản xuất ra hàng hoá đó nộp nhưng người tiêu dùng là người chịu thuế vì thuế được cộng vào giá bán. Ở Việt Nam, có 4 mặt hàng phải nộp TTTĐB là thuốc lá, rượu, bia và pháo. Pháo nổ đã bị cấm sản xuất và tiêu thụ từ 10.1994, nên chỉ còn 3 mặt hàng chịu thuế. Thuế được tính vào số lượng hàng hoá tiêu thụ, giá tính thuế theo đơn vị hàng hoá và thuế suất. Giá tính thuế được xác định là giá do cơ sở sản xuất mặt hàng đó bán ra tại nơi sản xuất chưa có TTTĐB. Thuế suất được quy định trong khung từ 15% đến 100%. Mỗi mặt hàng thuộc diện chính sách TTTĐB chỉ chịu TTTĐB một lần và không phải nộp thuế doanh thu ở nơi sản xuất. Các cơ sở sản xuất khi nộp TTTĐB được khấu trừ TTTĐB thuộc phần nguyên liệu ở khâu trước nếu có.

 

THUẾ THU NHẬP

loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân và tổ chức kinh tế. Có 2 loại: 1) TTN đối với các pháp nhân (cg. thuế lợi tức; x. Thuế lợi tức). 2) TTN đối với các thể nhân đánh vào toàn bộ thu nhập của từng con người cụ thể. Tuỳ theo mỗi nước, thuế suất có thể được quy định phân biệt đối với các khoản thu có nguồn gốc khác nhau hoặc có thể áp dụng thống nhất đối với các loại thu nhập không tính đến nguồn phát sinh. TTN đánh từ một mức thu nhập tối thiểu trở lên và đánh theo kiểu luỹ tiến, có vai trò quan trọng trong việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư góp phần thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho nhà nước có nguồn thu để trang trải các khoản chi mang tính chất phúc lợi công cộng.

 

THUẾ TÀI NGUYÊN

loại thuế đánh vào các thể nhân và pháp nhân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản...). Tiền thu từ TTN sẽ được nộp cho ngân sách nhà nước. TTN nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lí, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường đồng thời đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, các quy định về việc đóng, thu TTN được quy định rõ trong Pháp lệnh thuế tài nguyên của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 7.1.1991. Theo đó, các đối tượng tính TTN là: 1) Tài nguyên khoáng sản kim loại và không kim loại, kể cả đá, cát, sỏi và đất làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; 2) Sản phẩm của rừng tự nhiên như gỗ, củi, sản phẩm khác của rừng; 3) Cá và các loại thuỷ sản tự nhiên khác. Tất cả các tổ chức, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cá nhân thực hiện các hoạt động có khai thác và sử dụng các loại tài nguyên nêu trên đều phải đóng TTN, trừ các cơ quan, xí nghiệp khai thác sản phẩm rừng tự nhiên mà có đóng tiền nuôi rừng theo quy định của Nhà nước và các xí nghiệp khai thác các nguồn nước tự nhiên trừ nguồn nước dùng cho sản xuất thuỷ điện. Mức thuế được quy định bằng số tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài nguyên đã khai thác và sử dụng. Căn cứ tính thuế dựa vào sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế của một đơn vị sản phẩm và thuế suất.

 

 

THUẾ SUẤT

mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lượng chịu thuế (một đồng doanh thu, một hecta đất...). Định mức thu thuế (tỉ lệ %) tính trên khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế. TS có các loại: TS lũy tiến, TS tỉ lệ thuận, TS cố định tuyệt đối, TS luỹ thoái. TS luỹ tiến là việc đánh TS cao hơn khi có thu nhập tăng hoặc giá trị tài sản chịu thuế tăng. TS tỉ lệ thuận là việc đánh thuế với TS như nhau trên tất cả các khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế. TS cố định tuyệt đối là TS quy định bằng số tiền tuyệt đối cho một hoạt động có thu nhập hoặc một đối tượng chịu thuế. TS luỹ thoái là việc đánh thuế với TS giảm khi có thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế tăng.

THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

(tên cũ: thuế nông nghiệp), thuế đất và hoa lợi trên đất, mà người sử dụng đất nông nghiệp phải nộp cho nhà nước theo luật định. Mỗi năm thu từ 1 đến 2 lần theo vụ thu hoạch chính của từng loại cây trồng ở từng địa phương. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp với nhà nước.

TSDĐNN khẳng định tính pháp lí về đất đai là toàn dân sử dụng đất, nhưng nhà nước thống nhất quản lí. Vì vậy, nhà nước luôn khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất trồng rừng, vv. TSDĐNN căn cứ vào diện tích, hạng đất và định suất thuế. Định suất thuế một năm tính bằng kilôgam thóc trên 1 hecta, nhưng thường thu bằng tiền theo thời giá, của từng hạng đất (chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiện tưới tiêu) và từng loại cây trồng hằng năm, hay lâu năm. Để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp trên những vùng đồi núi trọc, đầm lầy, bãi bồi, đất ở vùng cao miền núi... đưa vào sản xuất, để giúp đỡ các gia đình chính sách, để hỗ trợ những trường hợp thiên tai, địch hoạ làm thiệt hại mùa màng, nhà nước còn có quy định miễn thuế sử dụng đất từ một cho đến nhiều năm; giảm thuế từ 10% đến 100%, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

THUẾ SÁT SINH

thuế đánh vào việc giết mổ một số loại gia súc như lợn, trâu, bò. Có hai hình thức thu TSS: 1) Thuế suất TSS được xác định bằng số tiền tuyệt đối trên một đầu gia súc. 2) Thuế suất được tính bằng tỉ lệ % trên trị giá con vật bị giết mổ.

THUẾ QUAN ƯU ĐÃI

thuế được áp dụng riêng cho một số hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu đặc biệt mà nhà nước cần khuyến khích, nhằm thực hiện chính sách kinh tế trong việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá. Ngày nay, do quan hệ mậu dịch quốc tế phát triển mạnh và phức tạp, mỗi nước tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà áp dụng chính sách thuế quan và biểu thuế quan xuất - nhập khẩu khác nhau, như thuế quan cố định, thuế quan thông thường, thuế quan tối đa, thuế quan tối thiểu, TQƯĐ. Tỉ suất TQƯĐ tương đối thấp so với thuế quan thông thường, trong đó TQƯĐ tối huệ quốc là thấp nhất. Vd. trong chế độ ưu đãi phổ biến hiện nay, các nước cho ưu đãi (thông thường là các nước phát triển) dành cho một số nước đang phát triển tỉ suất TQƯĐ một chiều. Liên hiệp Châu Âu đánh thuế ưu đãi một chiều cho một số nước đang phát triển ở khu vực Châu Phi, Thái Bình Dương. Với một số điều kiện nhất định, các nước có thể dành cho nhau thuế suất ưu đãi hay thuế suất bằng 0.

 

THUẾ QUAN

nghĩa vụ nộp hoặc thuế đánh vào hàng hoá tại biên giới khi hàng hoá đi từ một lãnh thổ hải quan này (thông thường là một nước) sang lãnh thổ hải quan khác. Mức thuế có thể là một con số cụ thể trên một đơn vị hàng hoá nhập khẩu, gọi là thuế đặc định hay dựa trên phần trăm của giá trị hàng nhập khẩu, gọi là thuế trị giá. Đôi khi các nước áp dụng hình thức thuế gộp, đánh thuế kết hợp cả hai yếu tố trên. TQ góp phần đội giá hàng nhập khẩu, làm cho hàng nhập khẩu kém cạnh tranh hơn để bảo vệ hàng trong nước. Về mặt kinh tế, TQ tương đương với việc áp dụng cùng một lúc thuế tiêu thụ và trợ cấp xã hội. Nói chung, TQ đánh vào hàng nhập khẩu nhưng cũng có trường hợp hàng xuất khẩu cũng phải chịu TQ. Việc cắt giảm TQ có thể tác động quan trọng về mặt tài chính khi một nước có ngân sách phụ thuộc nhiều vào nguồn thu thuế hải quan - một nguồn thu thuế có thể dự đoán trước được. Để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần phát triển và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam đã được công bố ngày 4.1.1992.