Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THUẾ TUẦN TI

loại thuế áp dụng đối với các thuyền buôn hàng hoá trong các thế kỉ 17 - 18 ở Đàng Ngoài, Đàng Trong. Do các trạm kiểm soát trên sông thuộc Sở tuần ti đảm trách. Lúc đầu việc kiểm soát, thu buôn chuyến còn lẻ tẻ. Năm 1723, chính thức đặt TTT, thu 1/40 giá trị hàng hoá, trong số đó 2/3 nộp vào kho công, 1/3 cho quan trưng thu. Trên thực tế, ngạch thuế này lạm thu, lạm tăng khá lớn. Ở Đàng Trong, mức TTT được ấn định hằng năm tuỳ theo từng trạm kiểm soát thu thuế. Thời Nguyễn, TTT gọi là thuế quan tân.

Tìm được 2267 bản ghi

THUẾ TUẦN TI

loại thuế áp dụng đối với các thuyền buôn hàng hoá trong các thế kỉ 17 - 18 ở Đàng Ngoài, Đàng Trong. Do các trạm kiểm soát trên sông thuộc Sở tuần ti đảm trách. Lúc đầu việc kiểm soát, thu buôn chuyến còn lẻ tẻ. Năm 1723, chính thức đặt TTT, thu 1/40 giá trị hàng hoá, trong số đó 2/3 nộp vào kho công, 1/3 cho quan trưng thu. Trên thực tế, ngạch thuế này lạm thu, lạm tăng khá lớn. Ở Đàng Trong, mức TTT được ấn định hằng năm tuỳ theo từng trạm kiểm soát thu thuế. Thời Nguyễn, TTT gọi là thuế quan tân.

THUẾ THẬP PHÂN

một loại thuế do Giáo hội Thiên Chúa ở Tây Âu thời trung đại đặt và thu của các tín đồ bằng một phần mười thu nhập hằng năm của họ. Thực hiện ở Vương quốc Frăngxơ (France) từ năm 585; đến 779, trở thành bắt buộc. Thu bằng ngũ cốc, hoa quả nhỏ và sản phẩm chăn nuôi. Là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn tới phong trào cải cách tôn giáo và nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, các phong trào dị giáo chống Giáo hội Thiên Chúa sau này. TTP được huỷ bỏ ở Pháp vào những năm 1789 - 90. Ở một số nước khác còn tiếp tục cho đến cuối thế kỉ 19.

THUẾ TẠP VẬT

một loại thuế ở Tây Âu thời trung đại, do các lãnh chúa phong kiến bắt nông nô phải nộp khi họ buộc phải sử dụng các công cụ lao động của chúng để xay bột, ép rượu nho, nướng bánh, vv. Thoạt đầu, thu bằng hiện vật (bột mì, rượu nho hoặc bánh...), sau đó bằng tiền.

THUẾ TAILƠ

một loại thuế ở nước Pháp trước năm 1789. Được áp dụng trên cơ sở mức thu nhập hoặc tài sản (động sản và bất động sản) của người dân.

THUẾ QUAN TÂN

loại thuế áp dụng đối với các loại thuyền buôn chuyến thời Nguyễn. Xt. Thuế tuần ti.

THUẾ HÔN NHÂN NGOÀI LÃNH ĐỊA

một loại thuế ở nước Pháp thời trung đại: nông nô ở một lãnh địa muốn lấy vợ hoặc chồng ở lãnh địa khác (hoặc lấy người tự do) phải được sự đồng ý của lãnh chúa và nộp một số tiền do lãnh chúa quy định (gọi là: "tiền ngoại hôn"). Con cái do các cặp vợ chồng này sinh ra phải chia cho cả hai lãnh chúa. Là loại thuế khẳng định sự lệ thuộc hoàn toàn về thân phận của tầng lớp nông nô. Bị xử phạt rất nặng nếu không thực hiện.

THUẾ GIÁN THU

loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hoá. Thuộc loại TGT gồm có: thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Trong thực tế, TGT là loại thuế đánh vào tiêu dùng, thuế này do người hoạt động sản xuất kinh doanh nộp cho nhà nước, nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế (tức là mang tính chất gián thu). Thuế này dễ thu hơn thuế trực thu vì tránh được quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế (người tiêu dùng) với cơ quan thu thuế. TGT dễ điều chỉnh hơn thuế trực thu vì những người chịu thuế thường không cảm nhận đầy đủ gánh nặng của loại thuế này. Hiện nay, các nước trên thế giới có xu hướng coi trọng TGT hơn thuế trực thu vì nó có phạm vi thu rất lớn, đem lại số thu lớn cho ngân sách, dễ thu, dễ quản lí, đồng thời chi phí bỏ ra để thu thuế rất thấp.

THUẾ ĐINH

loại thuế áp dụng đối với các nhân đinh (nam giới đến tuổi trưởng thành) trong các làng xã Việt Nam thời phong kiến. Thông thường, các triều đại đều lập các sổ đinh bạ (thời Lý gọi là hoàng sách, sau này gọi là đinh bộ, hộ khẩu) ghi tên các nhân đinh từ 18 tuổi trở lên để theo dõi và căn cứ vào đó mà thu thuế, tuyển lính, bắt phu. TĐ được áp dụng chủ yếu trong các lĩnh vực địa tô và lao dịch.

Thời Trần, năm 1242 quy định, nhân đinh có ruộng thì nộp tiền thóc, không có ruộng thì miễn tất cả (1 - 2 mẫu nộp 1 quan tiền, 3 - 4 mẫu nộp 2 quan, 5 mẫu trở lên nộp 3 quan). Mức tô thuế như vậy là rất nặng (thời giá 1 mẫu ruộng đất là 5 -10 quan tiền). Năm 1402, nhà Hồ định lại biểu TĐ cụ thể hơn. Trong đó, đối tượng không phải đóng bao gồm cả trẻ mồ côi, đàn bà goá. Sau này, các vương triều Trịnh - Nguyễn, triều Nguyễn còn phân loại nhân đinh (tráng hạng: những nhân đinh trai tráng, lão hạng: nhân đinh từ 49 - 50 tuổi trở lên, vv.) để quy định mức thuế và các nghĩa vụ lao dịch.

 

 

THUẾ CHUYỂN QUYỀN THỪA KẾ

một loại thuế ở nước Pháp thời trung đại. 1) Khoản lễ vật bồi thần (người được phong đất) phải nộp cho phong quân (người phong đất) chuyển quyền thừa kế cho thân tộc khi người bồi thần này chết mà không có con. 2) Khoản lễ vật nông nô phải nộp cho lãnh chúa khi họ qua đời để chuyển quyền thừa kế sử dụng ruộng đất và các tài sản khác. Cho đến trước thế kỉ 9, loại thuế này là sự khẳng định quyền sở hữu tuyệt đối về ruộng đất, tài sản của các tầng lớp phong quân, lãnh chúa.

THUẾ CHUYÊN LỢI

loại thuế thổ sản đặc biệt thời Lê - Trịnh. Được áp dụng đối với việc khai thác, buôn bán quế, muối và đồng. Ban hành năm 1720. Theo đó, các hộ nhân dân muốn khai thác và buôn bán các loại sản vật trên đều phải được nhà nước cấp giấy tờ làm quế hộ, táo đinh (người nấu muối), diêm hộ (hộ buôn muối), đồng hộ. Ngoài những khoản lệ phí, quế hộ phải nộp cho nhà nước 5/10 giá trị số quế được phép bán, táo đinh nộp 2/10 số muối nấu được chia bán, đồng hộ nộp 3/10 giá trị số đồng được phép bán. Nhà nước cử quan Giám đương phụ trách việc thu các loại thuế này; kiểm soát và nghiêm cấm mọi hoạt động buôn bán ẩn lậu.