Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THUNG LŨNG VUA

(Ph. Vallée des Rois; Arập: Biban al Mouk), di chỉ khu mộ trong thung lũng ở phía bắc Đê En Bahari (Deir el - Bahari, Ai Cập), chôn các pharaông của Vương quốc Mới (1580 - 1090 tCn.) và một vài tổ tiên của họ. Những ngôi mộ và những hầm khoét vào vách dốc, làm thành các phòng. Những ngôi mộ này được khai quật từ năm 1918, đến nay người ta biết được khoảng sáu chục. Tất cả đã bị đào trộm từ thời xưa. Chỉ còn một ngôi gần nguyên vẹn là mộ của Tutankhamon (Toutânkhamon) được phát hiện năm 1922. Nhiều mộ cũng không phải hoàn toàn trống rỗng như mômi của vua Amênôphit III (Aménophis III; khoảng 1450 - 25 tCn.) vẫn nằm nguyên trong mộ. Quan tài thường đặt trong quách đá. Các phòng chứa những đồ tuỳ táng quý giá. Những gì chứa trong ngôi mộ khiêm tốn của Tutankhamon gợi ý về sự giàu có khó tưởng tượng của những ngôi mộ có hầm khổng lồ. Các hầm và hành lang có trang trí điêu khắc hay hội hoạ. Đề tài trang trí thường là cuộc du hành mà các pharaông trải qua sau khi chết. Có những cảnh rất hiện thực miêu tả các vua đang ăn uống và tiêu khiển. Ở mộ vua Ramxet III (Ramses III; 1198 - 68 tCn.), ta thấy những người đầu bếp, những anh hàng thịt, những thợ làm bánh mì và cả những cô gái chơi đàn.

Tìm được 623 bản ghi

THUNG LŨNG VUA

(Ph. Vallée des Rois; Arập: Biban al Mouk), di chỉ khu mộ trong thung lũng ở phía bắc Đê En Bahari (Deir el - Bahari, Ai Cập), chôn các pharaông của Vương quốc Mới (1580 - 1090 tCn.) và một vài tổ tiên của họ. Những ngôi mộ và những hầm khoét vào vách dốc, làm thành các phòng. Những ngôi mộ này được khai quật từ năm 1918, đến nay người ta biết được khoảng sáu chục. Tất cả đã bị đào trộm từ thời xưa. Chỉ còn một ngôi gần nguyên vẹn là mộ của Tutankhamon (Toutânkhamon) được phát hiện năm 1922. Nhiều mộ cũng không phải hoàn toàn trống rỗng như mômi của vua Amênôphit III (Aménophis III; khoảng 1450 - 25 tCn.) vẫn nằm nguyên trong mộ. Quan tài thường đặt trong quách đá. Các phòng chứa những đồ tuỳ táng quý giá. Những gì chứa trong ngôi mộ khiêm tốn của Tutankhamon gợi ý về sự giàu có khó tưởng tượng của những ngôi mộ có hầm khổng lồ. Các hầm và hành lang có trang trí điêu khắc hay hội hoạ. Đề tài trang trí thường là cuộc du hành mà các pharaông trải qua sau khi chết. Có những cảnh rất hiện thực miêu tả các vua đang ăn uống và tiêu khiển. Ở mộ vua Ramxet III (Ramses III; 1198 - 68 tCn.), ta thấy những người đầu bếp, những anh hàng thịt, những thợ làm bánh mì và cả những cô gái chơi đàn.

THUNG LŨNG HOÀNG HẬU

(Ph. Vallée des Reines; Arập: Biban al - Harim), di chỉ khu mộ Ai Cập ở giữa vùng Đê En Mêđinê (Deir el - Médineh) và vùng Mêđinê Haobu (Médinet Haobu), dành cho việc chôn cất các bà vợ và con gái các pharaông (pharaon) của Vương quốc Mới (1580 - 1090 tCn.). Đầu thế kỉ 20, một đoàn khảo cổ Italia khai quật địa điểm này, đã phát hiện được hơn 70 ngôi mộ. Đáng chú ý nhất là hầm mộ của bà Nêfectari (Néfertari), vợ Ramxet II (Ramses II; 1300 - 1235 tCn.), được trang trí toàn bộ bằng những cảnh tôn giáo. Cũng có một vài mộ nam, con trai của vua Ramxet III (Ramses III; 1198 - 68 tCn.), chết lúc còn rất trẻ.

THUNG LANG

di tích khảo cổ học do Frômagiê (J. Fromaget) phát hiện năm 1948 ở gần Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình. Ở đây đã tìm thấy di cốt động vật hoá thạch của khỉ, đười ươi, gấu tre, voi răng kiếm, lợn, tê giác, bò; đặc biệt răng Người khôn ngoan (Homo sapiens) hoá thạch. Di tích TL có quần thể động vật tương đương với Hang Hùm và Kéo Lèng, có niên đại hậu kì Plêittoxen.

THỜI ĐẠI SẮT

(A. iron age; cg. thời đại sắt sớm), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn con người đã biết rèn luyện sắt từ quặng. Có những vùng, con người đã biết dùng đồ sắt từ lâu. Nhưng bấy giờ chưa thể coi là đã bắt đầu TĐS. Nói chung, TĐS phát triển tiếp theo thời đại đồ đồng, nhưng cũng có vùng không tồn tại thời đại đồ đồng. Ở các vùng này, từ thời đại đá chuyển thẳng sang TĐS. Nhìn chung, TĐS thuộc thiên niên kỉ 1 tCn. Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt các nhà nước đầu tiên của các tộc người trên lục địa Á - Âu. Ở Việt Nam, các văn hoá như Đông Sơn, Sa Huỳnh là thuộc TĐS.

THỜI ĐẠI KIM KHÍ

(A. metal age), thuật ngữ khảo cổ học chỉ khái quát giai đoạn phát triển lịch sử sau thời đại đá khi chưa cần xác định rõ ràng thuộc về thời đại đồ đồng hay thời đại sắt sớm. Trong thời đại này, các công cụ kim loại đã xuất hiện.

THỜI ĐẠI ĐỒNG ĐÁ

(Ph. énéolithique hay chalcolithique), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn nằm giữa thời đại đá và thời đại đồ đồng. Trong TĐĐĐ, đồ đồng đã xuất hiện nhưng đồ đá vẫn còn chiếm ưu thế. Đồ đồng bấy giờ được coi là đồng nguyên chất (Cu). Nhưng hiện nay, người ta thấy trong các văn hoá TĐĐĐ đã biết, đồ đồng phần lớn đã làm bằng hợp kim đồng và asen. Chưa tìm thấy TĐĐĐ ở Việt Nam và Đông Nam Á. Hiện nay, có nhiều người nghĩ rằng TĐĐĐ không phải đã tồn tại tất yếu ở mọi nơi.

THỜI ĐẠI ĐỒ ĐỒNG

(A. bronze age), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn tồn tại phổ biến vào thiên niên kỉ 2 tCn. trên các lục địa Á - Âu. Trước đây, trong ngành khảo cổ học Việt Nam, thường gọi là thời đại đồng thau (khái niệm đồng thau trong khảo cổ học được hiểu là một hợp kim giữa đồng và các kim loại khác). Hợp kim giữa đồng và các kim loại khác làm hạ nhiệt độ nóng chảy, nhưng lại làm tăng độ bền cơ học của chất liệu. Vào buổi đầu, hợp chất thiên nhiên có thể là thạch tín (asen), chì, antimon, thiếc, vv. Đến giai đoạn phát triển, hợp kim đồng thiếc tồn tại phổ biến. Nhưng trung tâm luyện kim không nhất thiết phải là những trung tâm khai khoáng, do có sự giao lưu trao đổi rộng rãi giữa cư dân các vùng trên Trái Đất. Tuy vậy, cũng có nhiều nơi, cư dân cổ không trải qua TĐĐĐ, chủ yếu do sự hạn chế về mặt trao đổi nguyên liệu.

THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI TRƯỚC GỐM

(A. preceramic neolithic), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại tiếp sau thời đại đá cũ và trước thời đại đá mới đích thực. TĐĐMTG (hay chưa có đồ gốm) tương ứng với các khái niệm: "thời đại đá giữa" (mésolithique), "thời đại đá cũ sau" (épipaléolithique) hoặc "thời đại đầu đá mới " (proto néolithique). Đây là thời đại tuy chưa có đồ gốm, nhưng các ngành kinh tế sản xuất như nông nghiệp, chăn nuôi đã ra đời hoặc phát triển.

THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI

(Ph. néolithique; cg. thời đồ đá mới), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn phát triển cao nhất của thời đại đá trong lịch sử nhân loại. TĐĐM bắt đầu và kết thúc trong những niên đại khác nhau ở các vùng khác nhau trên thế giới, được chia làm các giai đoạn: sơ kì, trung kì và hậu kì đá mới. Cư dân TĐĐM sống trong môi trường hiện đại, phát triển mạnh mẽ kĩ thuật mài, khoan, cưa trong việc chế tác đồ đá, đồ xương, phổ biến chế tác đồ gốm, dệt vải, đan lát; đặc biệt phát triển kinh tế sản xuất là chăn nuôi và trồng trọt. Phần lớn cư dân TĐĐM sùng bái lực lượng tự nhiên liên quan đến lễ nghi nông nghiệp. Ở Việt Nam, các văn hoá Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Đa Bút... được xem là văn hoá TĐĐM.

THỜI ĐẠI ĐÁ GIỮA

(Ph. mésolithique), thuật ngữ khảo cổ học chỉ giai đoạn nằm giữa thời đại đá cũ và thời đại đá mới. TĐĐG ở Châu Âu bắt đầu với việc truyền bá cung tên, lưu hành rộng rãi kĩ thuật đá nhỏ. Săn bắt, hái lượm, đánh cá là những phương thức chính tìm kiếm thức ăn, ở một vài nơi bước đầu thuần hoá động vật và thực vật. TĐĐG có nhiều cuộc di cư lớn, hình thành các văn hoá nhỏ của các bộ lạc riêng biệt. Ở Việt Nam, văn hoá Hoà Bình trước đây được xếp vào TĐĐG. Hiện nay, có nhiều nhà khảo cổ học cho rằng TĐĐG không phải là tất yếu cho mọi vùng trên thế giới.