Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 12 bản ghi

MIỄN THUẾ

giảm một phần hay toàn bộ số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định, thông thường vì nguyên nhân khách quan mà không hoàn thành kế hoạch sản xuất - kinh doanh, ngoài ra còn có thể do những yêu cầu đặc biệt khác nữa. Chỉ cơ quan thuế trực tiếp quản lí và cấp có thẩm quyền mới được xét MT theo luật thuế quy định.

LIÊN HIỆP THUẾ QUAN

tập hợp một số nước có một chế độ thuế quan thống nhất, không những đối với những hàng hoá lưu thông giữa các nước thuộc Liên hiệp, mà còn đối với những hàng hoá nhập từ các nước ngoài Liên hiệp vào. Từ thế kỉ 19, có Liên hiệp Zollverein của các nước trong Đế quốc Đức, hoặc Liên hiệp các nước Nam Châu Phi thuộc Anh và Hà Lan. Tổ chức Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) là một loại hình của LHTQ.

KINH THÀNH HUẾ

kinh đô các triều vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, khởi công từ thời Gia Long (1802) và đạt tới quy mô hoàn chỉnh dưới triều Minh Mạng (1820 - 40), được bổ sung ở các thời vua Nguyễn tiếp theo, xây dựng thành một tổng thể kiến trúc đô thị phong kiến độc đáo và đa dạng. Trung tâm là khu Đại Nội với gần 140 công trình, mỗi công trình có chức năng riêng biệt, được xây cất và trang trí độc đáo: Ngọ Môn, điện Thái Hoà, sân Đại Triều, cung Diên Thọ, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Triệu Miếu, Thái Bình Lâu, Duyệt Thị Đường... là những di tích nghệ thuật tiêu biểu còn lại. Ngoài ra, còn lăng tẩm của các vua Nguyễn ở ngoại vi thành phố, mỗi lăng tẩm là một công trình nghệ thuật hài hoà giữa kiến trúc và cảnh quan. Vd. lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định. Do sự tàn phá của quân đội thực dân Pháp, sau lần thất thủ kinh đô năm 1884, vụ cháy lớn năm 1947, sự huỷ hoại của bom đạn Mĩ năm 1968, ảnh hưởng khí hậu cộng với sự thiếu kinh nghiệm trong việc bảo quản, đã làm cho nhiều cung điện và một số lăng tẩm trở thành phế tích. Năm 1981, UNESCO đã giúp đỡ Việt Nam tu bổ một số di tích tiêu biểu tại khu vực Đại Nội và các lăng tẩm. Ngày 11.12.1993, UNESCO đã cấp bằng công nhận KTH là di sản văn hoá thế giới.

KỊCH HÁT HUẾ

(cg. kịch ca Huế), một loại hình kịch hát dân tộc Việt Nam, hình thành trên đất Huế năm 1920 với vở diễn đầu tiên "Trần Bồ" được chuyển từ vở tuồng hài sang. KHH dựa trên nền ca nhạc cổ điển Huế, có gốc từ ca nhạc cung đình thời các chúa Nguyễn ở Phú Xuân, nay đã được phổ biến trong dân gian. Về nghệ thuật biểu diễn, tiếp thu các điệu bộ của hát bội, của ca Huế, hò Huế, KHH đã sáng tạo các kiểu ca và kiểu nói lối riêng như kiểu nói lối Hồng Thu, Kim Sanh, sau này (1960) có kiểu nói lối ngâm thơ Huế. Những năm 1930- 45, dàn kịch mục biểu diễn tràn ngập đề tài về tình yêu và trinh thám mạo hiểm. Sau Kháng chiến chống Pháp, được nhà nước quan tâm giúp đỡ, KHH chuyển sang giai đoạn phát triển mới. Dàn kịch mục của Đoàn Kịch hát Huế có những vở chủ yếu như: "Con gà chân chì", "Tín hiệu trái tim", "Sông Hương từ ấy", "Người con gái Pacô", "Tình ca Phú Xuân". Diễn viên nổi tiếng: nghệ sĩ ưu tú Mộng Điệp.

KHU MIỄN THUẾ

(cg. khu tự do), vùng đất nằm trong lãnh thổ một quốc gia, có ranh giới địa lí rõ ràng, ở đó các hoạt động công nghiệp hoặc thương mại được hưởng một chế độ thuế đặc biệt ( được miễn thuế một phần hoặc hoàn toàn), hàng hoá được nhập khẩu tự do, được lưu kho để tái xuất và không thuộc phạm vi giám sát của cơ quan hải quan nước sở tại. KMT rất đa dạng, gồm: cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, vv. KMT đầu tiên trong lịch sử thế giới được thành lập năm 166 tCn. ở đảo Đêlôt (Délos, Hi Lạp), trong biển Êgiê (Égée).

Thời trung cổ, nhiều cảng và thành phố các nước Châu Âu được hưởng quy chế miễn thuế nhập khẩu, xuất khẩu như Macxây (Marseille), Đoongkec (Dunkerque) ở Pháp; Hambua (Hamburg), Bremlơ (Bremle) ở Đức; Giênôva (Genova), Vênêxia (Venezia) ở Italia, và Đanxich (Dantzig hay Danzig) ở BaLan. Từ thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20, nhiều KMT được thành lập ở Địa Trung Hải và Châu Á như Gibranta (Gibraltar), Tănggiê (Tanger), Xingapo, Hồng Kông, Vlađivôxtôc (Vladivostok) và ở Châu Mĩ. Năm 1985, Hoa Kì có gần 150 KMT, chủ yếu dưới hình thức khu mậu dịch tự do. Với tổ chức KMT, nước sở tại thu lợi về dịch vụ kho, cảng, vận tải, khách sạn, do đó giải quyết được một phần công ăn việc làm cho người lao động, vv.

KHỞI NGHĨA HUẾ 1945

cuộc nổi dậy giành chính quyền (23.8.1945) của nhân dân Huế - Thừa Thiên, dưới sự lãnh đạo cuả Tỉnh uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và vua quan phong kiến ở vùng kinh đô nhà Nguyễn. Khởi nghĩa nổ ra trong điều kiện phong trào cách mạng do Việt Minh (Đảng Cộng sản) lãnh đạo đã lan rộng và cao trào cách mạng ở Thừa Thiên - Huế đã lên đến đỉnh cao, bộ máy thống trị của thực dân và phong kiến ở đây đã rệu rã, Uỷ ban khởi nghĩa Thừa Thiên - Huế được thành lập 17.8.1945 và nhân dân các huyện lân cận đã nổi dậy giành được chính quyền. Ngày 23.8, hàng chục vạn nhân dân các huyện phối hợp với nhân dân Huế đã tuần hành thị uy, cùng tự vệ chiếm giữ các công sở, xoá bỏ chính quyền cũ. Cùng ngày, Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời) gửi điện đòi Bảo Đại thoái vị. Ngày 24.8, Bảo Đại xin thoái vị để được làm dân tự do của một nước độc lập. Chính quyền cách mạng được thành lập trên toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Huế do Tôn Quang Phiệt làm chủ tịch. Ngày 30.8, cuộc mít tinh trước Ngọ Môn đã chứng kiến lễ Bảo Đại trao nộp ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Trần Huy Liệu dẫn đầu. Chế độ phong kiến ở Việt Nam bị xoá bỏ.

HUẾ

thành phố, tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên - Huế. Diện tích 71 km2, gồm 20 phường (Phú Thuận, Phú Bình, Tây Lộc, Thuận Hoá, Thuận Lộc, Thuận Thành, Phú Cát, Phú HIệp, Phú Hậu, Phú Hội, Phú Nhuận, Phú Hoà, Vĩnh Ninh, Kim Long, Phước Vinh, Trường An, Phường Đúc, Vĩ Dạ, Xuân Phú, An Cựu) và 5 xã (Hương Sơ, Hương Long, Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều, Thuỷ An). Dân số 293.000 (1999).

Sông Hương chảy qua ra cửa Thuận An. Trung tâm kinh tế của tỉnh gồm các cơ sở công nghiệp (xưởng sợi, nhà máy bia, cơ khí sửa chữa, chế biến nông sản, hải sản), thủ công mĩ nghệ (thêu ren trang phục cổ, nón bài thơ của Huế nổi tiếng thanh và đẹp); gia công đồ gỗ, gạch ngói, sành sứ tinh sảo để phục chế di tích. Đường 1A và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Có trường Quốc học Huế; Đại học Khoa học Huế.

Vốn là vùng đất thuộc xứ Thuận Hoá xưa (đời Trần, Lê). Năm 1636, là trị sở của Đàng Trong; năm 1687, là chính dinh Phú Xuân; năm 1788, là nơi Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân đặt làm kinh đô của triều Nguyễn. Thời Pháp thuộc (1897-1945) là tỉnh lị Thừa Thiên và thủ phủ của Trung Kỳ. Ngày 23. 8.1945, H là nơi diễn ra lễ thoái vị và trao ấn kiếm của Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn. Từ 1945, H là tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên; từ 1975 đến 1989, là tỉnh lị tỉnh Bình Trị Thiên; từ 6.1989, là tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên - Huế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Huế

Quần thể di tích H thuộc loại hình di tích văn hoá cung đình. Ngoài Đàn Nam Giao và Hổ Quyền, cho đến nay, H còn khoảng trên 200 công trình được trải rộng trên cả hai bờ bắc và nam sông Hương. Khu lăng tẩm bao gồm các công trình lăng mộ chủ yếu nằm ở phía tây thành phố. Khu di tích H có 2 khu vực chính: Khu vực Kinh thành và Khu vực Lăng tẩm. Khu vực Kinh thành bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, được xây dựng hoàn chỉnh trong khoảng thời gian từ 1802 đến 1840, dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Kinh thành xây theo kiểu Vôbăng (Vauban) theo hướng nam, diện tích khoảng 250 ha, chu vi gần một vạn mét; thành cao 6,6 m, dầy 21 m, giữa đắp đất, hai mặt trong ngoài ốp gạch, có hệ thống hào đường thuỷ bao quanh để bảo vệ thành. Trên mặt thành có xây các pháo đài, giác bảo, báo nhãn, tường bắn, vọng lâu để canh gác phòng thủ. Ở chính giữa là Kì Đài. Các dinh thự và công thự của triều đình như Lục bộ, Cơ mật viện, Quốc sử quán, Quốc Tử Giám, vv. được bố trí ở trong thành. Hoàng thành và Tử Cấm thành thường được gọi là khu Đại Nội; là trung tâm sinh hoạt chính trị và hành chính quan trọng nhất của triều đình. Toàn bộ Hoàng thành (xt. Hoàng thành) có khoảng 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ, được bố trí cân đối theo chức năng sử dụng của từng cụm. Nơi cử hành các cuộc đại lễ của triều đình là một không gian khoáng đạt từ cửa Ngọ Môn đến điện Thái Hoà. Năm toà miếu điện tráng lệ uy nghiêm là nơi thờ các "tiên vương liệt thánh" nhà Nguyễn. Cung Diên Thọ và cung Trường Sanh xinh xắn trầm lắng, nơi mẹ và bà nội vua ở; phủ Nội vụ được dùng làm kho để tàng trữ đồ quý của triều đình, vườn Cơ Hạ và điện Khám Văn được kết hợp hài hoà với cảnh quan thiên nhiên, nơi học tập và vui chơi của các hoàng tử và công chúa. Bên cạnh là Tử Cấm thành, nơi sinh hoạt, làm việc của nhà vua và Hoàng gia. Đây là khu vực có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh khoảng 300 m ngăn cách với bên ngoài. Toàn bộ khu vực có gần 50 công trình lộng lẫy vàng son. Đó là: Đại Cung Môn, nơi vua làm việc hàng ngày; điện Càn Thanh, nơi vua ở; cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng quý phi; Thái Bình lâu, nơi vua đọc sách; Lục viện, thế giới của phi tần, cung nữ. Toàn bộ cảnh quan là một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh của các thành quách và cung điện, là sự kết hợp hài hoà giữa nền nghệ thuật phương Đông và phương Tây.

Với quan niệm "tức vị trị lăng" nên ngay từ khi còn đang ở ngôi, các vị vua nhà Nguyễn đã bắt đầu công việc xây khu lăng tẩm cho riêng mình. Đây là một công việc rất kì công của các vị vua đương triều và bộ máy quan lại. Triều Nguyễn có tất cả 13 vị vua, hiện nay ở H có 8 khu lăng tẩm (xt. Lăng vua Nguyễn) và đều nằm ở phía tây, nơi Mặt Trời lặn, hàm nghĩa khi vua băng hà sẽ cùng Mặt Trời đi về phía tây để an giấc ngàn thu. Ngày nay, hệ thống lăng tẩm nhà Nguyễn đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới ghi nhận như một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam (xt. Lăng Gia Long; Lăng Minh Mạng; Lăng Thiệu Trị; Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Khải Định).

 Trong lịch sử đế đô nước Việt Nam thời phong kiến, kinh thành H còn lưu giữ được một quần thể kiến trúc gồm: Thành - Hào, cung điện và lăng tẩm tương đối toàn vẹn, tiêu biểu nghệ thuật kiến trúc cung đình, cùng với một di sản văn hoá phi vật thể phong phú, đa dạng (xt. Kinh thành Huế). Trên cơ sở của những giá trị lịch sử và nghệ thuật đó, ngày 11.12.1993, quần thể di tích H đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Huế

HIỆP ĐỊNH THUẾ QUAN

văn kiện được kí kết giữa các nước về thuế quan đối với hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu qua biên giới mỗi nước với những điều khoản nhất định. HĐTQ có thể được kí giữa hai nước với nhau (hiệp định hai bên), hoặc có thể được kí giữa nhiều nước với nhau (hiệp định nhiều bên). Nó tạo điều kiện cho các hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các bên được qua biên giới (hải cảng hoặc cửa khẩu ra vào giữa hai nước) một cách thuận tiện, không bị hàng rào thuế quan ngăn chặn. Theo thông lệ, các nước có HĐTQ với nhau, bao giờ cũng ưu đãi nhau về thuế quan so với các nước không kí hiệp định.

HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI

(viết tắt: GATT), về các biểu thuế và thương mại, kí giữa nhiều bên ở Giơnevơ (Genève, 1947) có hiệu lực bắt đầu từ 1.1.1948, đề ra những nguyên tắc về biểu thuế quan và những chính sách thương mại giữa các nước kí kết. Tham gia kí kết hiệp định này có khoảng 23 nước công nghiệp phát triển; về sau thêm một số nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Ba Lan, Nam Tư và một số nước đang phát triển như Myanma, Xâylan (Ceylan), Cuba, Ấn Độ, Inđônêxia, Nicaragoa, vv. Những nguyên tắc cơ bản: 1) Không phân biệt đối xử đối với tất cả các nước, đối xử với nước khác theo quy chế tối huệ quốc về mặt thuế quan; những trường hợp ngoại lệ rất hạn chế và được quy định chặt chẽ, vd. khi 6 nước của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) kí kết với nhau những điều khoản về thuế quan thì phải xin phép HĐCVTQVTM. 2) Ổn định những quyền thuế quan, những biểu thuế hay những hạn chế tương tự; không được vượt mức quy định năm 1974, để giảm đến mức tối thiểu những sự hạn chế mậu dịch tự do. 3) Nguyên tắc đàm phán, nhân nhượng lẫn nhau trong việc giảm bớt biểu thuế quan. HĐCVTQVTM đóng một vai trò căn bản trong việc tự do hoá mậu dịch và trong việc tiêu chuẩn hoá các chính sách và thông lệ mậu dịch quốc tế sau Chiến tranh thế giới II. Từ 1964, theo đề nghị của tổng thống Mĩ, "Vòng đàm phán Kennơđy" đã thoả thuận giảm 50% thuế quan (đối với tất cả các sản phẩm), mỗi năm 10% từ 1968 đến 1972. Sự hình thành Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), sự kiến lập những hiệp hội thuế quan mâu thuẫn với đường lối mậu dịch tự do của HĐCVTQVTM và biểu thế quan ưu đãi các nước thế giới thứ ba, do đó hạn chế phạm vi hoạt động của HĐCVTQVTM. Mâu thuẫn xảy ra giữa các nước công nghiệp và các nước thuộc thế giới thứ ba; những nước này không tín nhiệm HĐCVTQVTM và lập ra UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development - Hội nghị Liên hợp quốc về Thương Mại và Phát triển) quy định những ưu tiên cho các nước đang phát triển. Sự mở rộng EEC ra 9 thành viên (1973) trong điều kiện hệ thống tiền tệ thế giới tan rã, tình hình mất cân bằng thường xuyên của cán cân thương mại của Mĩ và sự thay đổi trong phân công lao động quốc tế đã gây nhiều tranh cãi trong HĐCVTQVTM; từ 1974 đến 1979, có nhiều vòng đàm phán thương mại địa phương, gọi là "Vòng đàm phán Nixơn" hay là "Vòng đàm phán Tôkyô". Trong tình thế khủng hoảng giữa những năm 70, có sự chống lại khuynh hướng bảo hộ mậu dịch, có lợi cho HĐCVTQVTM cho nên số nước thành viên của HĐCVTQVTM tăng lên. Đến 1.1980, có 100 nước tham gia, đại diện cho 4/5 kim ngạch thương mại thế giới. Ngày 15.12.1993, tại Giơnevơ, 117 nước tham gia "Vòng đàm phán Urugoay" của HĐCVTQVTM đã đạt được thoả thuận chống chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và ủng hộ việc tự do hoá nền thương mại thế giới. Song song với sự tồn tại của HĐCVTQVTM, trên thế giới đang hình thành nhiều liên minh thương mại khu vực [như Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mĩ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ... và đang phát triển xu hướng đa phương hoá những hiệp định thương mại song phương. Ngoài ra, liên minh quốc tế giữa những công ti đa quốc gia đã và sẽ dễ dàng vượt qua những hàng rào thuế quan mà không gặp khó khăn. Văn phòng thường trực của HĐCVTQVTM đặt tại Rôma (Italia). Năm 1994, các bộ trưởng thương mại HĐCVTQVTM họp ở Marakêch (Marrakech, Marôc) quyết định lập một uỷ ban trù bị chuẩn bị cho việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tổ chức WTO ra đời 1.1.1995 kế tục HĐCVTQVTM để thảo luận, đàm phán và giải quyết các tranh chấp về mậu dịch toàn cầu (x. Tổ chức Thương mại Thế giới).

HÀNG RÀO THUẾ QUAN

những biện pháp kinh tế và quản lí kinh tế mà chính phủ một nước đặt ra đối với hàng nhập khẩu từ các nước khác, nhằm hạn chế việc nhập hàng hoá đó vào nước mình nhằm bảo vệ nền kinh tế và an ninh quốc gia. Có các biện pháp như: đánh thuế nhập khẩu cao, hoặc quy định hạn ngạch nhập khẩu, các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe, kiểm soát ngoại hối... (thường được gọi là hàng rào phi thuế quan). Các nước tư bản thường sử dụng HRTQ để bảo hộ hàng sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh của hàng nước ngoài, để cải thiện cán cân buôn bán và cán cân thanh toán, hoặc để trả đũa đối phương trong trường hợp đấu tranh mậu dịch. Việc sử dụng HRTQ có thể dẫn tới những cuộc xung đột trong quan hệ kinh tế, quan hệ thương mại giữa các nước hữu quan, thậm chí còn có thể dẫn đến mâu thuẫn lớn, thường gọi là "chiến tranh thương mại".