Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 3 bản ghi

KHỞI NGHĨA HOÀNG SÀO

phong trào nổi dậy của nông dân Trung Quốc (875 - 884) chống nhà Đường, do Hoàng Sào (Huáng Chao) lãnh đạo. Chính thức cầm quân từ 878, thay thủ lĩnh Vương Tiên Chi chết, tướng Hà Nam, Hoàng Sào cùng 60 vạn nghĩa quân tiến về phía nam, sau đó đánh tan 50 vạn quân Đường, chiếm kinh đô Tràng An. Ông lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Tề (881). Do tính hạn chế của một phong trào nông dân (không quen quản lí, nội bộ mâu thuẫn, phân hoá vì quyền lợi...), quân khởi nghĩa đã bị tầng lớp quan lại phong kiến tập trung chống phá. Nghĩa quân phải rời bỏ kinh đô, rút về Hà Nam. Bị vây quét và cắt đường tiếp tế, năm 884, phong trào thất bại. Hoàng Sào chết.

HOÀNG SÁCH

sách có bìa màu vàng, có bản đồ ở đầu sách, dùng để đăng kí hoàng nam theo hộ và loại ở từng lí (làng), phường (ở nội thành) và sương (ngoại thành). HS có từ thời Lý. Cứ 10 năm, HS lại được bổ sung, sửa đổi một lần.

HOÀNG SA

(tk. Bãi cát vàng), quần đảo thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng (Việt Nam). Gồm hơn 20 hòn đảo san hô lớn nhỏ, trải trên một vùng biển khoảng 15 nghìn km2, giữa 15o45' -17o15' vĩ Bắc, 111o - 113o kinh Đông, cách Cù Lao Ré 200 km, cách đảo Hải Nam 230 km. Các đảo chính: Cây, Quang Anh, Hoàng Sa, Tri Tôn, Phú Lâm, Linh Côn, Hữu Nhật, Bông Bay.

Các đảo thường là rạn san hô vòng có hình tròn hoặc bầu dục, mỗi đảo thường có một vòng san hô bao quanh có cửa để thuyền ra vào được. Diện tích của các đảo khoảng 0,3 - 0,5 km2. Đất trên các đảo là cát san hô hoặc đá san hô. Nhiệt độ trung bình năm 26oC, lượng mưa trung bình 1.228 mm/năm. Thiếu nước ngọt. Cây mọc nhiều nhất là nhau nhau (Morinda angustifolia), họ Cà phê (Rubiaceae). Trên các đảo có nhiều chim sinh sống, phân chim tạo thành photphat.

 Thời chúa Nguyễn, HS thuộc huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa, xứ Quảng Nam. Theo "Phủ biên tạp lục" (1775) của Lê Quý Đôn, chúa Nguyễn đã lập đội HS, hàng năm ra quần đảo 6 tháng để khai thác hải sản. Các vua thời Nguyễn đều cử đội HS ra nghiên cứu vẽ bản đồ lộ trình; vua Gia Long cử đội ra liền hai năm 1815, 1816. Tháng 8.1833, Minh Mạng ra lệnh cho Bộ Công đưa thuyền ra HS, dựng bia xây đền. Liên tiếp các năm 1834, 1835, 1836 lại sai quân đội ra HS vẽ bản đồ. HS được thể hiện đầu tiên trong bản đồ của tác giả Đỗ Bá (thế kỉ 17), sau đó trong "Đại Nam nhất thống toàn đồ" (1834). Năm 1899, toàn quyền Đume (P. Doumer) đề xuất xây đèn biển ở HS. Năm 1925, giám đốc Viện Hải dương học Krăm (A. Krempl) đi tàu Lanexăng (Lanessan) ra nghiên cứu HS. Đoàn nghiên cứu kết luận về mặt địa chất HS thuộc Trung Bộ. Tháng 3.1925, thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề khẳng định HS từ xưa vẫn của Việt Nam. Ngày 30.3.1938, dụ của vua Bảo Đại sáp nhập HS vào tỉnh Thừa Thiên. Cũng năm ấy đã xây dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm vô tuyến điện và trạm khí tượng trên đảo HS. Năm 1947, Tổ chức Khí tượng Thế giới công nhận trạm khí tượng HS nằm trong mạng lưới quốc tế với mã số 48860. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, do chính quyền Miền Nam quản lí. Năm 1974, bị Trung Quốc đánh chiếm. Ngày 9.12.1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện HS thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ 11.1996, thuộc thành phố Đà Nẵng.