Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 6 bản ghi

LIÊN MINH CÁC LỰC LƯỢNG DÂN TỘC DÂN CHỦ VÀ HÒA BÌNH MIỀN NAM VIỆT NAM

tổ chức chính trị tập hợp, đoàn kết các tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở thành thị và những người có xu hướng hoà bình trung lập chưa có hoàn cảnh tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Ra đời sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân Miền Nam Tết Mậu Thân 1968. Chiến thắng Mậu Thân năm 1968 đã tác động mạnh mẽ, thu hút nhiều nhân sĩ, trí thức, tư sản dân tộc ... tham gia vào cuộc đấu tranh chống Mĩ, cứu nước. Một số nhân sĩ, trí thức ở đô thị đã ra vùng giải phóng. Số đông còn lại trong đô thị đã cùng nhân dân chống Mĩ với các hình thức và điều kiện cho phép. Ngày 20.4.1968, Đại hội thành lập LMCLLDTDCVHBMNVN đã họp. Tham dự Đại hội có nhiều nhân sĩ, trí thức, học giả, giáo sư, sinh viên, các nhà công thương. Đại hội đã bầu Uỷ ban Trung ương LMCLLDTDCVHBMNVN do luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, kĩ sư nghiệp chủ Lâm Văn Tết và thượng toạ Thích Đôn Hậu làm phó chủ tịch. "Sự ra đời và những hoạt động tích cực của Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam là một thắng lợi rực rỡ của lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân đoàn kết chống Mĩ, cứu nước" (Hồ Chủ Tịch). Ngày 6.6.1969, đại biểu các đảng phái, tổ chức chính trị, đoàn thể trong LMCLLDTDC VHBMNVN và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã họp và quyết định thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm phó chủ tịch. Năm 1975, Kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất, việc thống nhất các mặt trận trên cả hai miền đất nước là một tất yếu. Từ ngày 31.1 đến 4.2.1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã họp tại Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định thống nhất các tổ chức mặt trận ở hai miền thành một mặt trận chung lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC

(viết tắt: PKO), một biện pháp do Liên hợp quốc thiết lập và phát triển nhằm đóng góp vào việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Khái niệm gìn giữ hoà bình không được ghi một cách cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc, nó ở mức cao hơn các biện pháp giải quyết hoà bình các tranh chấp, nhưng chưa ở mức mạnh mẽ như các biện pháp cưỡng chế hoặc quân sự được ghi trong Hiến chương. Gìn giữ hoà bình đã được phát triển như một phương cách linh hoạt được quốc tế chấp nhận để kiểm soát các cuộc khủng hoảng và tăng cường giải quyết hoà bình các cuộc tranh chấp. Thủ tục thiết lập một HĐGGHBCLHQ cần phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản: phải có một nước hay một nhóm nước thành viên Liên hợp quốc hoặc tổng thư kí Liên hợp quốc đề nghị thành lập. Đề nghị đó trước hết phải được sự đồng ý của các bên liên quan tới cuộc tranh chấp; các hoạt động liên quan sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước chủ nhà cũng như không đứng về một bên để chống lại bên kia. Thứ hai là đề nghị đó phải được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là phải được Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua. Thứ ba là các nước thành viên phải tình nguyện gửi quân để hoạt động theo lệnh của tổng thư kí. Tổng thư kí sẽ phải thông báo thường xuyên cho Hội đồng Bảo an những tình hình liên quan tới HĐGGHBCLHQ để Hội đồng Bảo an quyết định sẽ tiếp tục các hoạt động đó như thế nào. Tài chính cho HĐGGHBCLHQ sẽ được Hội đồng Bảo an quyết định trên cơ sở đóng góp tự nguyện hoặc thường là trên cơ sở nghĩa vụ đóng góp của các nước thành viên Liên hợp quốc (do Đại hội đồng Liên hiệp quốc phân bổ tỉ lệ). Có khoảng 65 quốc gia thành viên đóng góp quân cho Liên hợp quốc, trong đó các nước thường xuyên tham gia là Hoa Kì, Canađa, Nga, Áo và các nước Bắc Âu, Ailen, Niu Zilân, Gana, Fiji, vv. Có hai loại hình chủ yếu của HĐGGHBCLHQ: 1) Các phái đoàn quan sát, gồm phần lớn là các quan chức, nói chung là không được vũ trang. 2) Các lực lượng gìn giữ hoà bình, gồm các đơn vị bộ binh được trang bị vũ khí nhẹ với những bộ phận trợ giúp về hậu cần.


HOÀ BÌNH

tỉnh trung du ở phía tây Bắc Bộ. Diện tích 4.749 km2. Gồm 1 thị xã (Hoà Bình, tỉnh lị), 9 huyện (Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ). Dân số 745.800 (1999), gồm các dân tộc: Mường, Thái, Dao, Mông, Kinh.

Địa hình đồi núi, phía tây nam có dải núi đá vôi chạy từ Mai Châu qua Vụ Bản xuống phía rừng Cúc Phương; phía bắc và đông bắc có nhiều đồi núi cao, với các đỉnh Pu Canh (1.373 m), Viên Nam (1.029 m), Biêu (1.196 m), Đồi Thời (1.198 m). Sông chính: Đà, Bôi, Bưởi chảy qua.

Cây trồng chính: lúa, ngô, sắn, lạc, đậu tương, thuốc lá, cây ăn quả, mía, chè. Có công trình thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất Việt Nam. Khai thác lâm sản. Tuyến giao thông chính: quốc lộ 6, đường 12, 21B và đường thuỷ Hà Nội - Sơn La. Các điểm du lịch: thuỷ điện Hoà Bình, suối khoáng Kim Bôi. Di tích văn hoá Hoà Bình. Xưa thuộc trấn Hưng Hoá. Năm 1887, thành lập tỉnh; đến 1975, hợp nhất với Hà Tây thành Hà Sơn Bình; tháng 7.1991, tách ra thành 2 tỉnh như cũ.

HIỆP ĐỊNH PARI VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM 1973

(gọi tắt: Hiệp định Pari về Việt Nam), hiệp định do bốn bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam (xt. Hội nghị Pari về Việt Nam) là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kì, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hoà (Chính quyền Sài Gòn) kí 27.1.1973 tại Pari (Pháp). Cùng với Hiệp định có 4 nghị định thư kèm theo, 8 bản "ghi nhớ" và một công hàm chính thức của tổng thống Hoa Kì gửi thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nội dung chủ yếu: Hoa Kì và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam và cam kết không tiếp tục dính líu hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam; Hoa Kì rút hết quân đội, phá bỏ hết các căn cứ quân sự ở Miền Nam Việt Nam, chấm dứt bắn phá Miền Bắc Việt Nam; nhân dân Miền Nam Việt Nam quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế; thực hiện từng bước việc thống nhất Việt Nam bằng phương pháp hoà bình; công việc nội bộ của Lào, Cămpuchia do nhân dân mỗi nước giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài; thành lập Ban Liên hiệp Quân sự bốn bênBan Liên hiệp Quân sự hai bên Miền Nam Việt Nam để thi hành các điều khoản về quân sự của Hiệp định, thành lập Uỷ ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế để giám sát việc thi hành Hiệp định và giám sát cuộc tổng tuyển cử; Hoa Kì đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH

chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, vv. Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ. DBHB được tiến hành thường là tổng hợp nhiều biện pháp buộc đối phương trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực, nhiều hoạt động chống đối, thúc đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội thành khủng hoảng chính trị, tạo ra tình thế bạo loạn lật đổ chế độ.

Những ý tưởng ban đầu về DBHB do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỉ 20, sau được tiếp tục bổ sung; cuối thập kỉ 80 thế kỉ 20, được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược. Trong điều kiện mới của so sánh lực lượng trên thế giới, chiến lược DBHB được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân sự, nhằm "chuyển hoá hoà bình" các nước xã hội chủ nghĩa theo tư bản chủ nghĩa. Sau biến động ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, phương Tây công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược "kiềm chế" sang chiến lược "mở rộng" với hai nội dung cơ bản: "dân chủ hoá về chính trị" và "tự do hoá về kinh tế". Vấn đề "nhân quyền" và "dân chủ" được coi là vũ khí lợi hại.

Nhà nước Việt Nam thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, hợp tác và hữu nghị nhưng luôn cảnh giác đối với âm mưu DBHB. Chủ trương và biện pháp phòng chống chủ yếu là tăng cường sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội bên trong (yếu tố quyết định) kết hợp đề phòng sự thâm nhập phá hoại từ bên ngoài.