Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 235 bản ghi

TRẠM BIẾN THIÊN TỪ

trạm máy dùng trong thăm dò từ, đặt cố định để ghi biến thiên từ. Kết quả đo tại mỗi điểm trên tuyến trừ đi kết quả đo ở TBTT cùng một thời điểm nhằm loại trừ ảnh hưởng biến thiên từ ngày đêm trong khảo sát dị thường từ yếu bằng từ kế. Khi dùng từ kế để tìm kiếm quặng với dị thường lớn (> 500 nT) hoặc khi đo bằng građien từ kế thì không cần dùng TBTT.

TỘI ÁC CHIẾN TRANH

tội vi phạm luật pháp và tập tục quốc tế về chiến tranh, là một trong những tội ác được quy định trong Điều ước do đại diện chính phủ các nước Liên Xô, Hoa Kì, Anh, Pháp thoả thuận tại Luân Đôn (8.8.1945). Những TACT chủ yếu được nêu ra là: sử dụng các loại phương tiện và vũ khí đã bị công pháp quốc tế lên án; huỷ diệt có chủ đích vào hệ thống các khu dân cư; ngược đãi, cưỡng bức tình dục, bắn giết, dùng làm vật thí nghiệm đối với tù binh, bệnh binh, người bị thương và cả dân thường; bắt giữ con tin... Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1973 đã thông qua những nguyên tắc hợp tác quốc tế về truy nã, bắt giữ và trao trả và trừng phạt những người phạm TACT và tội ác chống nhân loại.

TƠ THIÊN NHIÊN

có nguồn gốc thực vật, động vật hoặc vô cơ. TTN gốc thực vật hình thành trên bề mặt hạt (vd. bông), trong thân thảo (vd. cây lanh, đay, sợi gai dầu...), trong vỏ quả (vd. cùi xơ quả dừa). Quan trọng nhất trong loại tơ này là bông: có tính cơ học tốt, bền, chịu nhiệt, có tính hút ẩm vừa phải. TTN gốc động vật là lông thú (len), tơ (lụa) do tằm hay một số sâu bọ nhả ra. Len có độ bền không cao nhưng có tính đàn hồi và tính hút ẩm cao, độ dẫn nhiệt thấp. Tơ tằm dạng sợi dài rất bền, có tính đàn hồi và tính hút ẩm cao, dễ nhuộm màu. TTN gốc vô cơ là amiăng: rất bền, có tính điện môi tốt, chịu lửa và bền hoá học, độ dẫn nhiệt thấp. TTN gốc thực vật và động vật được sử dụng để sản xuất sợi dệt nhiều loại vải và hàng dệt kim, bông băng, chỉ may, vv. Tơ amiăng được dùng trong sản xuất vải chịu nhiệt, chịu lửa và dùng cho một số mục đích kĩ thuật khác. Nhiều loại sợi dệt quý còn được chế tạo từ hỗn hợp TTN với các loại tơ hoá học (x. Sợi hoá học) hoặc từ hỗn hợp các loại TTN khác nhau.

THIÊN LÍ

(Asclepiadaceae), họ cây leo, một số cây bụi hoặc cây gỗ, cây thảo. Lá mọc đối, đôi khi mọc cách hoặc mọc vòng; lá đơn nguyên, thường không có lá kèm. Hoa nhỏ, tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi mọc đơn. Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5, tràng hợp hình ống. Quả khô. Có 290 chi, 2.000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chỉ vài loài ở ôn đới. Nam Phi là trung tâm của nhiều loài, nhiều cây dạng mọng nước thuộc họ Thiên lí. Ở Nam châu Á có chi Dischidia với 50 loài bì sinh: cây tai chuột (D. acuminata) làm thuốc chữa bệnh lậu. Ở Việt Nam hiện biết 40 chi, 100 loài. Có một số loài làm thuốc như: bồng bồng (Callotropis gigantea) lấy lá chữa hen, vỏ rễ chữa bệnh phong, giang mai; hoa lí (Telosma cordatum = Pergularia minor) được trồng rộng rãi ở Miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá non nấu canh ăn mát và bổ; hà thủ ô trắng (Tylophora juventas) làm thuốc bổ, chữa cảm sốt. Xt. Hoa lí.

THIÊN LÍ

khái niệm trong triết học Trung Hoa cổ đại. Xuất hiện đầu tiên trong các tác phẩm của Trang Tử (Zhuangzi) và Hàn Phi Tử (Han Feizi), có nghĩa là phép tắc của tự nhiên. Thời Tống (Song), Trình Di (Cheng Yi) nói: "Cái không làm mà làm, cái không đến mà đến, gọi là thiên lí". Chu Hy (Chu Xi) thì lại cho cương thường là TL "Thiên lí chỉ là tên gọi chung của nhân, nghĩa, lễ, tế. Nhân, nghĩa, lễ, tế là các con số của thiên lí" (Chiểu ngữ loại). Vương Thủ Nhân (Wang Shouren) đời Minh (Ming) thì chỉ ra "Lương tri tức là thiên lí". Dù là Trình - Chu học phái hay Lục - Vương học phái, các phái thường đều cho TL là nguyên tắc cao nhất, mãi mãi không thay đổi của chính thể phong kiến chuyên chế. Họ đều cho điều trái với TL là "nhân dục", và đều chú trọng "giữ gìn thiên lí, tiêu diệt nhân dục".

THIÊN HÀ CỦA CHÚNG TA

(cg. Ngân Hà), hệ sao lớn, trong đó có hệ Mặt Trời. Thuộc loại Thiên Hà xoắn, chứa hơn 1011 sao, khối lượng gần bằng 1011 lần khối lượng Mặt Trời, ngoài ra còn có vật chất giữa các sao (khí, bụi chiếm khoảng 0,05 khối lượng các sao), các tia vũ trụ, từ trường, bức xạ (photon), vv. Phần lớn các sao tụ tập gần một mặt phẳng (cg. mặt phẳng Thiên Hà) và gần một tâm (cg. nhân Thiên Hà) tạo thành một hình thể như thấu kính lồi với đường kính cỡ 25 kpc, dày trung bình 2 kpc. THCCT có 2 nhánh xoắn, ở đó tập trung các sao trẻ, các sao nóng và các đám mây hiđro. Phần vật chất còn lại của THCCT phân bố trong một thể tích hình cầu với bán kính 15 kpc. Tâm THCCT ở về phía chòm Nhân Mã. Mặt Trời nằm giữa 2 nhánh xoắn, gần mặt phẳng THCCT và cách nhân của nó gần 10 kpc, do vậy, đứng trên Trái Đất ta thấy THCCT dưới dạng một dải màu trắng sữa, vì vậy mà có tên là Ngân Hà. Xt. Thiên Hà; Nhân Mã; Hệ Mặt Trời.

Thiên Hà của chúng ta

Vùng sáng nằm ngang giữa ảnh, chụp từ vệ tinh Đài thiên văn tia gamma Cômtơn

Vùng tâm Thiên Hà của chúng ta

 

THIÊN HÀ

những hệ sao khổng lồ chứa từ 107 đến 1012 sao và có kích thước từ 1 đến 100 kpc (kilô pacsec). Theo hình dáng bên ngoài và các đặc tính vật lí, chia thành các loại: TH elip (E, chiếm 50%), TH xoắn (S, chiếm gần 50%) và TH ngoại lệ (Ir). TH của chúng ta là Ngân Hà; dải Ngân Hà mà ta nhìn thấy là hình ảnh của đại đa số sao phân bố gần mặt phẳng chính của Thiên hà của chúng ta. TH gần chúng ta nhất là Tinh vân Magiêlan [Ir; gọi theo tên nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Magiêlan (F. Magellan); xt. Tinh vân Magiêlan] và Tinh Vân Tiên Nữ (S). Các TH tụ tập thành các tập đoàn với mật độ 800 - 10.000 TH trong 1 Mpc3, phân bố không đều trong không gian. Khoảng cách giữa các tập đoàn TH tăng dần do vũ trụ giãn nở. Tập hợp tất cả các TH gọi là Đại Thiên Hà. Xt. Vũ trụ học; Bich beng.

Thiên Hà

Thiên Hà M100 (S)
 (ảnh chụp bằng kính thiên văn vũ trụ Habơn)

 

THIÊN ĐƯỜNG

quan niệm tôn giáo về sự thưởng, phạt ở thế giới bên kia với niềm tin nguyên thuỷ về sự bất tử của linh hồn sau khi chết. Linh hồn người lành sẽ lên TĐ hưởng hạnh phúc vĩnh viễn, linh hồn người ác sẽ sa xuống địa ngục và chịu hình phạt đầy đoạ. Quan niệm này phản ánh một cách ảo tưởng khát vọng đạo đức của con người muốn vươn tới hạnh phúc, sự công bằng xã hội; trong xã hội có giai cấp, nó bị giai cấp bóc lột lợi dụng để mê hoặc quần chúng lao động: hãy cam chịu cuộc sống khổ ải bất công trên trần thế để được cứu rỗi về sau này ở thế giới bên kia.

"THIÊN HẠ ĐẠI THẾ LUẬN"

(dịch nghĩa: "Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ"), bài "luận" do Nguyễn Lộ Trạch viết nhân dịp vua Thành Thái ra đề trong kì thi Đình năm 1892. Tuy không dự thi, nhưng qua đó tác giả muốn nói lên tư tưởng của mình trước thời thế. Nội dung gồm: nước mạnh hay yếu là do có nền giáo dục lấy chánh đạo để đào tạo sĩ phu và quốc dân; thực trạng nước Trung Hoa hiện nay đã suy yếu, ta không nên trông chờ. Phải duy tân và tự cường như Nhật Bản mới mong mở mặt được; những nguyên nhân suy nhược của Việt Nam. Việt Nam muốn cứu mình phải bỏ cái cũ, xây cái mới bằng: 1) Chấn chỉnh chính giáo; 2) Duy tân, mở mang công, nông, thương, học theo các môn học Âu Tây; 3) Chờ cơ hội thuận lợi để lấy lại nước.