Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 235 bản ghi

THIÊN ĐƯỜNG

(Terpsiphone), chi chim thuộc họ Muscicapidae. Con đực trên đầu có túm lông, vành mắt nhẵn, cặp lông đuôi giữa rất dài. Có khoảng 10 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Phi, Đông và Nam Á, Ôxtrâylia. Ở Việt Nam có các loài: a) TĐ đuôi phướn (T. paradisi) sống định cư hoặc di cư tuỳ loài ở rừng thường xanh, rừng ngập mặn, cây bụi thứ sinh và vùng nương rẫy lên đến độ cao khoảng 1.200 m, phân bố từ Bắc Bộ đến hết Trung Bộ; b) TĐ đuôi đen (T. atrocaudata) sống di cư ở các vùng rừng núi và rừng ngập mặn ở đai thấp, phân bố ở Trung Trung Bộ. Là loài hiếm sắp bị đe doạ.

THIÊN ĐỈNH

giao điểm trên giữa đường thẳng đứng (dây dọi) và thiên cầu. TĐ có độ cao 90o độ so với đường chân trời. Xt. Thiên cầu.

THIÊN ĐỊCH

kẻ thù tự nhiên của sâu hại cây trồng. Là những sinh vật sống trên cây và những vùng xung quanh cây, không gây hại cho cây trồng, có khả năng bắt mồi ăn thịt hay kí sinh trên những loài địch hại (những sinh vật gây hại cây trồng), gồm: côn trùng bắt mồi, côn trùng kí sinh, vi sinh vật gây hại, những loài vi sinh vật đối kháng với vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng và các động vật khác có khả năng ăn địch hại. Trong hệ sinh thái các loài sinh vật, có nhiều mối quan hệ qua lại, trong đó có quan hệ dinh dưỡng: loài này làm thức ăn cho loài kia, các loài nối với nhau thành những chuỗi dinh dưỡng. Sâu hại cây (cây chủ) lấy cây làm thức ăn (cây kí chủ), một số loài sinh vật khác (TĐ) sử dụng sâu hại (vật chủ - vật mồi) để làm thức ăn. Dựa theo hình thức sử dụng sâu hại làm thức ăn, người ta chia thành: TĐ bắt mồi ăn thịt như bọ rùa, ruồi giả dạng ong, tò vò, chuồn chuồn, chim, vv.; TĐ kí sinh như ong mắt đỏ, ruồi kí sinh, giun tròn, virut... gây bệnh. Trong bảo vệ thực vật, TĐ có vai trò điều chỉnh số lượng quần thể các loài địch hại trên cây trồng. Việc sử dụng các loài TĐ để điều hoà số lượng sâu hại được gọi là biện pháp phòng trừ sinh học (x. Phòng trừ sinh học). Đây là biện pháp góp phần quan trọng trong đấu tranh sinh học và bảo vệ môi trường, vì vậy bảo vệ các loài TĐ trên các cánh đồng cũng là nhiệm vụ của nhà nông. TĐ là một bộ phận không thể thiếu trong biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM.

THIÊN ĐỊA HỘI

phong trào đấu tranh chống Pháp dưới hình thức hội kín ở Nam Kỳ trong những năm đầu thế kỉ 20. Có ảnh hưởng ít nhiều từ phong trào Nghĩa Hoà đoàn chống đế quốc ở Trung Quốc cuối thế kỉ 19. Trong những năm Chiến tranh thế giới I (1914 - 18), ở Nam Kỳ có từ 70 đến 80 hội kín, có hội do những người lính khố đỏ đứng đầu. Mục đích chủ yếu của TĐH là chống Pháp, quan lại tham ô, khôi phục Việt Nam. Tôn giáo và phương thuật (pháp sư, bùa chú, uống máu ăn thề, dùng tiếng lóng, dấu hiệu riêng để liên lạc, vv.) giữ vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và tổ chức hội viên. Địa bàn hoạt động rộng: Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Bến Tre, Châu Đốc. Tham gia tấn công trụ sở mộ lính ở Mỏ Cày (đêm 2 rạng 3.2.1916), đột nhập phá Khám lớn Sài Gòn (đêm 14 rạng 15.2) nhằm giải thoát Phan Xích Long, vv. Là phong trào tự phát mang nặng tính huyền bí, nhưng thể hiện tinh thần quật khởi của nông dân Nam Kỳ trong phong trào yêu nước chống Pháp.

THIÊN ĐỂ

giao điểm dưới của đường thẳng đứng (đường dây dọi) với thiên cầu của nơi người quan sát. Xt. Thiên cầu.

THIÊN CẦU

khái niệm cơ bản trong thiên văn học, nhằm đơn giản hoá để dễ quan niệm về vị trí và chuyển động của các thiên thể. Là hình cầu giả tưởng có bán kính rất lớn, có tâm điểm là điểm quan sát trên mặt đất (TC tâm tôpô), hoặc là tâm Trái Đất (TC địa tâm) hoặc là tâm của Mặt Trời (TC nhật tâm); trong đó khoảng cách giữa các thiên thể được tính bằng khoảng cách góc để không phụ thuộc vào khoảng cách thật giữa các thiên thể và Trái Đất. TC được xây dựng trên cơ sở cảm giác chủ quan của con người đứng trên mặt đất: thấy các thiên thể như đều nằm trên một mặt cầu rất lớn, hàng ngày chuyển động ngang bầu trời từ đông sang tây và hình cầu này mỗi ngày quay một vòng. Trong số các vòng tròn và điểm chủ yếu của TC (xem hình) có: điểm thiên đỉnh (Z) trên đường thẳng đứng đi qua điểm quan sát là tâm O; điểm thiên để () - đáy TC - đối xứng với Z qua O; các điểm Nam, Tây, Bắc, Đông - SWNE - đường chân trời thật; P và P' - cực vũ trụ (Thiên cực) bắc và nam; đường PP' song song với trục quay của Trái Đất gọi là trục vũ trụ; AEA'W - vòng tròn lớn vuông góc với trục vũ trụ PP' gọi là Thiên xích đạo; đường NS nối liền hai điểm Bắc Nam - đường nửa ngày. Khi xét các vấn đề có liên quan đến sự quay của Trái Đất, người ta cho rằng TC quay từ đông sang tây với chu kì bằng 1 ngày sao.

Thiên cầu

Z. Thiên đỉnh; . Thiên để; P,P'. Thiên cực;

PP’. Trục vũ trụ; Điểm xuân phân;

AEA'W. Thiên xích đạo

 

 

THIÊN BÌNH

(L. Libra), chòm sao Hoàng đạo, kí hiệu khoa học: Lib. Các ngôi sao sáng nhất là: α và β Lib, tương ứng với cấp sao 2,74 và 2,90. Đã phát hiện thấy trong TB nguồn bức xạ vô tuyến ngoài Thiên Hà PKS 1514 - 24 (N - Thiên Hà). Ở Việt Nam, khoảng tháng 5, TB mọc từ đầu hôm đến gần sáng thì lặn; lùi về trước (hoặc sau) tháng 5, thời điểm mọc sẽ muộn (hoặc sớm) hơn.

Thiên Bình

THIÊN AN MÔN

(Tian'anmen), cửa chính ở mặt nam của Hoàng thành Bắc Kinh (Trung Quốc), xây dựng vào năm 1420, lúc đầu có tên là Thừa Thiên Môn; năm 1651, được xây lại do bị cháy và được đặt tên TAM. Công trình có cấu trúc đồ sộ với một khối bệ lớn có 5 cửa cuốn tròn, phía trên là toà lầu thành có cấu trúc khung cột mái ngói với 9 gian, toàn bộ công trình cao 34,7 m. Khối bệ lớn xây bằng gạch có kích thước lớn (viên gạch nặng 24 kg) ngoài sơn màu đỏ sẫm. Lầu thành có cột sơn màu đỏ, mái ngói màu vàng. Ngày nay, TAM là công trình chủ thể trên Quảng trường Thiên An Môn (quảng trường công cộng rộng nhất thế giới, có diện tích 40 ha), ngoài chức năng là cổng ra vào Hoàng thành, còn có chức năng là lễ đài vào những ngày lễ tổ chức trên quảng trường. Tại đây, chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã đọc bản tuyên bố thành lập nước (1.10.1949). Từ đó, TAM trở thành biểu tượng của nước Trung Hoa và hình ảnh TAM được thể hiện trên quốc huy của Trung Quốc.

Thiên An Môn


 

"THIÊN CẨU"

 

điệu múa cung đình Chiêm Thành, loại múa tập thể nữ đồng điệu. Các cô gái đội trên đầu một chùm lọ độc bình bằng sứ được kết lại thành hình cây tháp, hai bên vai cắm hai chùm đèn bằng giấy trong thắp nến, vừa múa những động tác cung đình Chiêm Thành vừa hát theo nhịp trống, cồng, thanh la, đàn, sáo. Các cô gái đi, đứng, uốn lượn, quỳ một chân, có lúc quay ngoắt lại, đặc biệt là quỳ hai chân uốn ngửa người, nằm ép xuống sàn mà chùm lọ độc bình không đổ, chùm đèn không tắt.