Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 2 bản ghi

MƠ NÔNG

(M’ nông - người ở miền núi), tên tự gọi, đồng thời là tên gọi của một dân tộc thiểu sốViệt Nam. Gồm các nhóm địa phương: Ga (Gar), Nông, Kuênh, Pre (Preh), Prông, Rlâm, Buđâng, Chin, Buno (Bunor), Dibri, Đip, Biat, Buđê, Sitô, Ka (Kah), Phêđâm, vv. Số dân 92.451 (1999); ở Cămpuchia có khoảng 1.200 người với tên gọi Pnông. Cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc (36.300 người). Ngoài ra còn ở hai tỉnh Lâm Đồng (4.200 người) và Bình Phước (4.200 người). Sử dụng ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Kinh tế nông nghiệp; cuốc, trồng trọt trên nương rẫy. Ruộng nước chỉ có ở những nơi gần đầm, hồ, sông, suối. Có nghề săn voi và thuần dưỡng voi, đặc biệt ở nhóm Buđâng và Pre. Một số ở nhà sàn và một số ở nhà đất, loại nhà dài. Làng (bon, buôn) thường dựng ở chân núi. Trai gái đến tuổi trưởng thành phải cưa răng, nhuộm răng đen. Con gái 6, 7 tuổi đã xâu tai. Hoa tai có thể là một khúc ngà voi, một khoanh nứa ống hoặc một khúc gỗ quý. Xã hội còn nhiều tàn tích của chế độ mẫu quyền. Hôn nhân phần lớn chồng cư trú bên vợ. Con cái theo họ mẹ.


 

Người Mơ Nông

MƠ NÔNG

[cg. cao nguyên Đắc Nông - Đắc Min (Đắk Nông - Đắk Min)], cao nguyên ở phía tây tỉnh Đắc Lắc (Đắk Lắk). Cùng với cao nguyên Di Linh tạo nên bề mặt 900 - 1.000 m và phân cách với cao nguyên trên bởi sông Đắc Dung. Diện tích 3.800 km2. Đại bộ phận cao nguyên là đá bazan. Bề mặt chia cắt bởi các phụ lưu của sông Xrêpôc, sông Bé, Đồng Nai. Đất đỏ bazan. Khí hậu mát và ẩm như khí hậu của cao nguyên Di Linh, thuận lợi cho việc trồng trọt các loại cây công nghiệp: cà phê, canhkina, chè, dâu tằm. Mỏ bauxit lớn. Địa bàn cư trú của đồng bào Mơ Nông, Mạ.