Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 2 bản ghi

MỎ APATIT LÀO CAI

mỏ nằm dọc bờ phải sông Hồng, kéo dài hơn 100 km từ Trịnh Tường qua Bát Sát, Cam Đường đến Tam Đỉnh (Bảo Hà). Về phía tây bắc, mỏ còn kéo dài sang Vân Nam. Mỏ do dân địa phương phát hiện từ 1924, được Frômagiê (J. Fromaget) nghiên cứu về địa chất (1934, 1941), Pháp khai thác thời kì 1940 - 44, sau chuyển cho một công ti Pháp - Nhật. Năm 1955, được Kanmưkôp (A. F. Kanmykov) nghiên cứu chi tiết về địa chất. MALC nằm trong đá trầm tích biến chất thuộc hệ tầng Cam Đường. Apatit phân bố trong các lớp đá phiến, cát kết hoặc đolômi ở phần giữa của hệ tầng. Với sự có mặt của vi hoá thạch Acritarcha và tảo Oncolit, hệ tầng Cam Đường có tuổi Cambri sớm hoặc Venđi. Trong mỏ có 4 loại quặng - quặng nguyên sinh có 2 loại: 1) Quặng loại 2 nằm trong tầng đolomi apatit, chứa 24 - 26% P2O5, 2 - 6% MgO, 1,3 - 1,5% Fe2O3, 0,8 - 1,2% Al2O3. Quặng dùng trực tiếp để chế phân lân nung chảy. 2) Quặng loại 4, nằm trong tầng cacbonat thạch anh apatit. Thành phần gồm 10 - 12% P2O5, 5 - 12% MgO, 2 - 5% R2O3 (R = Fe, Al). Quặng thứ sinh, được làm giàu do bị phong hoá. 3) Quặng loại 1 phân bố ở tầng đolomi apatit chứa: 34 - 36% P2O5, 0,3 - 1% MgO, 1 - 3% Fe2O3, 1 - 3% Al2O3; quặng loại 1 là nguyên liệu chủ yếu để chế tạo supe - photphat Lâm Thao. 4) Quặng loại 3 phân bố trong các tầng đá phiến mica - thạch anh, cacbonat chứa apatit. Hàm lượng quặng 15 - 17% P2O5 1,37% MgO, 3,83% Fe2O3,  5,12% Al2O3.

Trữ lượng mỏ đạt 1,6 tỉ tấn, trong đó quặng loại 1 chỉ chiếm 2%, loại 2: 55%, loại 3: 13%, loại 4: 30% Thời kì 1940 - 1944, đã khai thác: 151.908 tấn. Từ 1956 đến 1979, đã khai thác 8.575 nghìn tấn. Với nhà máy tuyển quặng loại 3 sản lượng hàng năm có thể đạt 1.560 nghìn tấn. (Hình sơ đồ dải chứa Apatit Lào Cai).


 

Mỏ Apatit lào Cai

LÀO CAI

 tỉnh miền núi ở Bắc Bộ Việt Nam, giáp giới Trung Quốc. Diện tích 8.044 km2. Gồm 2 thị xã (Cam Đường; Lào Cai, tỉnh lị), 9 huyện (Bát Xát, Bảo Thắng, Sa Pa, Văn Bàn, Bảo Yên, Than Uyên, Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà). Dân số 597.200 (1999), gồm các dân tộc: Tày, Thái, Mông, Nhắng, Dao, Kinh, La Chí, vv. Địa hình núi cao hiểm trở, phía tây có dãy Hoàng Liên Sơn, với đỉnh Phan Si Pan (3.143 m) cao nhất Việt Nam và các đỉnh Phu Ta Leng (3.096 m); phía đông là vùng cao nguyên Bắc Hà với các đỉnh 1.672 m, 1.349 m; ở giữa có thung lũng sông Hồng cao trung bình khoảng 100 m. Các phụ lưu lớn của sông Hồng như Ngòi Đum, Ngòi Bo đều đổ vào sông ở phía bờ phải, bờ trái có Nậm Thi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lạnh dần theo độ cao, có các đai á nhiệt đới và ôn đới trên núi. Khoáng sản: apatit, đồng, bạc, vàng, sắt, graphit. Công nghiệp: khai thác apatit, gốm sứ công nghiệp; cao lanh. Cây trồng chính: lúa, ngô, sắn, chè, sở, quế và cây ăn quả, các hạt giống rau ôn đới, cây nguyên liệu giấy. Các tuyến giao thông chính: quốc lộ 13, đường 70, 4D, 4E, đường sắt Hà Nội - Lào Cai và đường thuỷ theo sông Hồng. Điểm du lịch - nghỉ mát Sa Pa. Từ 1831, thuộc trấn Hưng Hoá; năm 1889, lập tỉnh LC; cuối 1975, sáp nhập với Yên BáiNghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Tháng 7.1991, tách ra thành tỉnh LC như cũ.


Lào Cai