Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 2 bản ghi

KHU MỎ THAN QUẢNG NINH

diện tích chứa than rộng khoảng 1000 km2, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh và một phần tỉnh Hải Dương, gồm hai dải than Bảo Đài - Yên Tử, Hòn Gai. Trữ lượng than gần 6 tỉ tấn, trong đó có 3,5 tỉ tấn tính đến độ sâu 300 m. Trầm tích chứa than là đá phiến, cát kết, cuội kết tuổi Tríat thượng (Nori - Rêti), gọi là điệp Hòn Gai, dày 3600 - 4000 m. Dải Bảo Đài - Yên Tử có từ 1 đến 17 vỉa than, trong đó có từ 1 đến 13 vỉa than công nghiệp, vỉa dày nhất đạt tới 24,78 m. Dải gồm nhiều mỏ: Hồ Thiên, Khe Chuối, Than Thùng - Yên Tử, Cánh Gà, Vàng Danh, Uông Thượng, Đồng Uông. Dải Hòn Gai chứa gần 60 vỉa than, trong đó 25 vỉa có giá trị công nghiệp, vỉa dày nhất dài tới 64,54 m. Dải này gồm các mỏ: Mông Dương, Cọc Sáu, Quảng Lợi, Quang Hanh, Khe Sim, Lộ Trí, Đèo Nai, Cái Bàu. Các mỏ khai thác lộ thiên là Hà Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn, vv., mỏ có công suất lớn đạt trên triệu tấn /năm. Các mỏ khai thác hầm lò là Mạo Khê, Vàng Danh, Hà Lầm, Tân Lập, Thống Nhất, Mông Dương, Khe Chàm, vv., mỏ có công suất lớn nhất đạt trên nửa triệu tấn/năm. Than có độ biến chất cao, thuộc loại antraxit và nửa antraxit. Khu mỏ than Quảng Ninh được Pháp khai thác từ 1888, với việc thành lập Công ti Hòn Gai ngày 27.4.1888. Mỏ than Đông Triều được khai thác từ 1893. Tổng sản lượng khai thác trước năm 1945 đạt khoảng 45 triệu tấn. Năm 1999, sản lượng khai thác của Công ti than Quảng Ninh đạt 10 triệu tấn.