Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 4 bản ghi

YÊN BÁI

tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam. Diện tích 6.882,9 km2. Gồm 1 thành phố (Yên Bái - tỉnh lị), 1 thị xã (Nghĩa Lộ), 7 huyện (Lục Yên, Văn Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu). Dân số 731.800 (2005), gồm các dân tộc: Tày, Dao, Mông, Thái, Mường, Nùng, Kinh. Địa hình núi trung bình, núi thấp ở phía tây tỉnh, đồi bóc mòn với núi thấp xen thung lũng xâm thực - tích tụ ở phía đông tỉnh. Sông Hồng, Sông Chảy, Ngòi Thia, Ngòi Lao, Ngòi Hít, Nậm Kim chảy qua, hồ Thác Bà. Trồng lúa, ngô, cây ăn quả, sắn, bông, chè. Trồng rừng nguyên liệu giấy, quế, tre, nứa. Chăn nuôi: lợn, gia cầm, cá, bò, ong lấy mật. Chế biến thực phẩm, chè. Cơ khí lắp ráp, sửa chữa, gia công đồ gỗ. Khai thác lâm sản: gỗ, quế, tre, nứa, khoáng sản: cao lanh, đá vôi, than đá, thạch anh, rubi. Sản xuất vật liệu xây dựng: đá vôi, xi măng. Giao thông: quốc lộ 32, 32C, 37, 70, tỉnh lộ 151, 152, đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua. Tỉnh được thành lập từ 11.4.1900; từ 27.12.1975, hợp nhất với các tỉnh Lào Cai, Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn; từ 12.8.1991, chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh: Lào Cai và Yên Bái.

Yên Bái

YÊN BÁI

Thành phố tỉnh lị tỉnh Yên Bái. Diện tích 8 km2. Gồm 7 phường (Nguyễn Thái Học, Hồng Hà, Nguyễn Phúc, Minh Tân, Yên Ninh, Đồng Tâm, Yên Thịnh), 4 xã (Nam Cường, Tuy Lộc, Minh Bảo, Tân Thịnh). Dân số 77.000 (2003). Địa hình đồi bóc mòn với thung lũng xâm thực - tích tụ. Sông Hồng chảy qua phía tây thành phố. Trồng lúa, cây màu, cây ăn quả. Chăn nuôi: gia cầm, lợn, bò. Trồng rừng nguyên liệu giấy. Chế biến nông sản, cơ khí. Giao thông: quốc lộ 37, đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua. Trước đây, là thị xã tỉnh lị tỉnh Yên Bái; từ 27.12.1975, trở thành thị xã tỉnh lị tỉnh Hoàng Liên Sơn; từ 12.8.1991 trở lại thị xã tỉnh lị; từ 11.1.2002, thành lập thành phố Yên Bái trên cơ sở thị xã Yên Bái.

YA LỐP

(cg. Ia Lốp), phụ lưu cấp I của sông Ya H'Leo. Bắt nguồn từ vùng núi cao 600 m, chảy theo hướng đông bắc - tây nam, nhập vào bờ phải sông Ya H'Leo. Dài 111 km, diện tích lưu vực 1.680 km2, độ cao trung bình 306 m, độ dốc trung bình 6,1%, mật độ sông suối 0,40 km/km2. Tổng lượng nước 1,5 km3 tương ứng với lưu lượng trung bình 29 m3/s, môđun dòng chảy năm 29 l/s km2.

KHỞI NGHĨA YÊN BÁI 1930

khởi nghĩa chống thực dân Pháp của Việt Nam Quốc dân đảng. Ngày 26.1.1930, tại Mỹ Xá (Nam Sách, Hải Dương), Hội nghị đại biểu toàn quốc của Việt Nam Quốc dân đảng quyết định khởi nghĩa đồng loạt ở một số tỉnh Bắc Kỳ vào đêm 9 rạng 10.2.1930. Phân công chỉ huy: Yên Bái do Thanh Giang, Nguyễn Văn Khôi; Sơn Tây do Phó Đức Chính; Hưng Hoá, Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu; Phả Lại, Hải Dương do Nguyễn Thái Học; Hải Phòng, Kiến An do Vũ Văn Giản (Vũ Hồng Khanh) và Hà Nội do Đoàn Trần Nghiệp. Do quá trình chuẩn bị gặp nhiều trắc trở, Nguyễn Thái Học quyết định hoãn ngày khởi nghĩa đến 15. 2. Nhưng ở nhiều địa phương, khởi nghĩa vẫn bắt đầu vào đêm 9 rạng 10.2. Nơi nổ súng đầu tiên và quyết liệt nhất là Yên Bái (do đó có tên gọi chung là KNYB). Ở Yên Bái, Phú Thọ, nghĩa quân chiếm một số nơi nhưng không giữ được, ngay sáng 10.2 bị dập tắt. Ở Hà Nội chỉ kịp gây ra một số vụ nổ bom ở Sở sen đầm, Sở mật thám, vv. Ở Kiến An, Hải Dương, mãi đến ngày 15.2 mới nổi dậy, chiếm được Vĩnh Bảo (Hải Dương) và Phụ Dực (Thái Bình), nhưng không đánh chiếm được Phả Lại, Hải Dương. KNYB thất bại, những người lãnh đạo chủ chốt (Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, vv.) bị bắt và bị kết án tử hình. Cuộc KNYB 1930 với khẩu hiệu "không thành công thì thành nhân" tuy thất bại nhưng đã góp phần cổ vũ lòng yêu nước, chí căm thù giặc của nhân dân Việt Nam.