Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 10 bản ghi

YA LỐP

(cg. Ia Lốp), phụ lưu cấp I của sông Ya H'Leo. Bắt nguồn từ vùng núi cao 600 m, chảy theo hướng đông bắc - tây nam, nhập vào bờ phải sông Ya H'Leo. Dài 111 km, diện tích lưu vực 1.680 km2, độ cao trung bình 306 m, độ dốc trung bình 6,1%, mật độ sông suối 0,40 km/km2. Tổng lượng nước 1,5 km3 tương ứng với lưu lượng trung bình 29 m3/s, môđun dòng chảy năm 29 l/s km2.

THÁI BÌNH DƯƠNG

    (Ph. Océan Pacifique), đại dương lớn và sâu nhất thế giới, nằm giữa các đại lục Á - Âu, Bắc Mĩ, Nam Mĩ và Nam Cực. Diện tích 180 triệu km2. Khối lượng nước 710,4 triệu km3, sâu trung bình 4.882 m, sâu nhất 11.022 m (vực Mariana). Các biển phân bố chủ yếu ở phía bắc và tây [Bêrinh (Bering), Ôkhôt (Okhot), Nhật Bản, Đông Hải, Hoàng Hải, Biển Đông Việt Nam, các biển giữa Châu Á và lục địa Úc, biển San Hô, Taxman (Tasman)], ở ven bờ lục địa Nam Cực có các biển Amunxen (Amundsen), Benlinxgauzen (Bellinshausen hay Bellinsgauzen), Rôxơ (Ross). Đảo ở phía bắc: Alêuxiên (Aleutian), ở phía tây và phía nam: Kurin (Kurin), Xakhalin (Sakhalin), Nhật Bản, Philippin, Xôngđơ LớnXôngđơ Nhỏ, lục địa Úc, Tân Ghinê, Niu Zilân, Taxmani (Tasmanie), vv. Ở trung tâm có nhiều đảo nhỏ. Địa hình đáy biển ở phía đông tương đối bằng phẳng. Phía tây và trung tâm nhiều miền đất cao ngầm và bồn biển ở độ sâu 5.000 m. Phía nam có các dãy núi ngầm chia cắt, độ sâu 2.000 - 3.000 m. Tính địa chấn cao, hoạt động núi lửa mạnh. Có các máng biển sâu 8.000 - 10.000 m (nét đặc trưng của phần rìa TBD). Nhiệt độ nước trên mặt ở xích đạo 26 - 29 oC, các miền gần cực - 0,5 oC. Dòng biển nóng từ xích đạo chảy về hai cực, dòng biển lạnh từ hai cực về vùng nhiệt đới. Dòng Humbôn (Humboldt) từ Nam Cực chảy sát bờ đông TBD ở Nam Mĩ, và dòng Ôya Siô (Oya - Shio) từ Bắc Cực chảy sát bờ tây bắc TBD về vùng nhiệt đới. Ở các vĩ độ nhiệt đới có tới 2.000 loài cá. TBD cung cấp tới 1/2 sản lượng cá toàn thế giới. Các loài cá chính: cá trích, cá hồi TBD, cá tuyết, cá nục, vv. Ngoài ra, có nghề săn cá voi, bắt tôm, cua, sò. Nhiều đường hàng hải, hàng không đi qua TBD. Các cảng quan trọng: Vlađivôxtôc (Vladivostok), Nakhôtka (Nakhodka), Pêtơrôpaplôpxkơ (Petropavlovsk), Uônxan (Wǒnsan), Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, Tôkyô, Yôkôhama (Yokohama), Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Xingapo, Xytny (Sydney), Vancuvơ (Vancouve), Xan Franxixcô (San Francisco), Lôt Angiơlet (Los Angeles), Vanparaixô (Valparaiso).

 

THÁI BÌNH

tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng Việt Nam. Diện tích 1.543,9 km2. Gồm 1 thành phố (Thái Bình - tỉnh lị), 7 huyện (Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy, Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải). Dân số 1.831.100 (2003). Địa hình đồng bằng phù sa, ở phía đông đồng bằng duyên hải ven Biển Đông. Sông Hồng, Trà Lý, Diêm Hộ, Sông Luộc chảy qua; có các cửa biển Thái Bình, Diêm Hộ, Trà Lý, Ba Lạt. Trồng lúa, mía, đay, cói, cây màu. Chăn nuôi: tôm, cá, lợn, bò, gia cầm. Nghề thủ công: dệt chiếu cói, đồ mĩ nghệ bạc đồng. Cơ khí lắp ráp, sản xuất vật liệu xây dựng. Khai thác khí đốt. Chế biến nông sản, thực phẩm, may mặc công nghiệp. Đánh bắt hải sản. Dịch vụ du lịch, thương mại. Giao thông: đường thuỷ trên Sông Hồng, Trà Lý; quốc lộ 10, 39, đường liên tỉnh 461, 127, 460 chạy qua. Di tích lịch sử - văn hóa: Chùa Keo, đền Lưu Phương, Tiên La, bãi biển Đồng Châu. Trước đây, Thái Bình là phủ thuộc trấn Sơn Nam; năm Thành Thái thứ 6 (1894) đặt làm tỉnh TB.

 

Thái Bình

THÁI BÌNH

thành phố tỉnh lị tỉnh Thái Bình. Diện tích 43,4 km2. Gồm 8 phường (Lê Hồng Phong, Bồ Xuyên, Đề Thám, Kỳ Bá, Quang Trung, Phú Khánh, Tiền Phong, Trần Lãm), 5 xã (Đông Hòa, Hoàng Diệu, Phú Xuân, Vũ Chính, Vũ Phúc). Dân số 136.000 (2003). Thị xã được xây dựng trên bờ sông Trà Lý. Trung tâm thương mại, cơ khí sửa chữa và chế tạo nông cụ, xe đạp, sản xuất vật liệu xây dựng. Chế biến nông sản, thực phẩm. Thủ công: may mặc, thêu ren, dệt cói, thảm đay. Trồng lúa, đậu đỗ, rau màu, cây ăn quả. Quốc lộ 10 chạy qua; giao thông đường thủy trên sông Trà Lý.

LIÊN ĐOÀN CÁC HỘI KĨ SƯ ĐÔNG NAM Á VÀ THÁI BÌNH DƯƠNG

(viết tắt: FEISEAP), tổ chức quốc tế phi chính phủ. Thành lập năm 1978. Thành viên (1999): gồm 13 hội kĩ sư của các nước và vùng lãnh thổ: Ôxtrâylia, Trung Quốc, Fiji, Hồng Kông, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Niu Zilân, Papua Niu Ghinê, Philippin, Thái Lan và Việt Nam. Ngoài ra, Liên đoàn còn kết nạp các thành viên liên kết; Hội Kĩ sư Chuyên nghiệp Hoa Kì, Hội Kĩ sư cơ khí Hoa Kì, Hội Kĩ thuật viên Inđônêxia... Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, đại diện cho các hội kĩ sư Việt Nam được kết nạp vào Liên đoàn tháng 4.1994.

Mục tiêu của Liên đoàn: thúc đẩy sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm thông tin trong lĩnh vực bồi dưỡng và đào tạo kĩ thuật tiến tới xây dựng mô hình người kĩ sư đạt tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn quốc tế. Liên đoàn gồm các tiểu ban thường trực về giáo dục và đào tạo kĩ thuật, kĩ thuật và môi trường, kĩ năng hành nghề kĩ sư. Đại hội đồng của Liên đoàn hai năm họp một lần để thảo luận, thông qua báo cáo phương hướng hoạt động, bầu ban chấp hành và các tiểu ban thường trực, có kết hợp tổ chức các hội thảo khoa học. Chức danh chủ tịch, tổng thư kí và ban thư kí được bầu theo nhiệm kì và thuộc nước đăng cai chủ trì các hoạt động của Liên đoàn. Ngoài ra, có hai phó chủ tịch là chủ tịch tiền nhiệm và đại diện của nước sẽ đăng cai chủ trì điều hành hoạt động của Liên đoàn ở nhiệm kì tiếp theo.

 LĐCHKSĐNAVTBD là thành viên của Liên đoàn các Hội Kĩ sư Thế giới (WFEO).

HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

(viết tắt: APEC - Asia - Pacific Economic Cooperation), diễn đàn hợp tác của các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong lĩnh vực kinh tế. Thành lập năm 1989; gồm các nước Ôxtrâylia, Brunây, Canađa, Chilê, Trung Quốc, Hồng Kông (nay thuộc Trung Quốc), Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mêhicô, Niu Zilân, Papua Niu Ghinê, Philippin, Xingapo, Đài Loan, Thái Lan, Hoa Kì; các nước Việt Nam, Nga, Pêru gia nhập năm 1998; tổng cộng 21 nước thành viên. Tỉ trọng của 18 nước thành viên APEC trong nền kinh tế thế giới: 38% dân số; 56% GDP; 64% kim ngạch xuất khẩu công nghệ; 49% mức tiêu thụ năng lượng; 46% tổng mức thương mại thế giới. Thu nhập bình quân đầu người của các nước APEC cao gấp rưỡi mức bình quân thế giới (6575 USD so với 4533 USD). Mức tăng trưởng kinh tế cũng cao gấp rưỡi mức bình quân thế giới (năm 1996 đạt 3,7%, năm 1997 đạt 3,4%, năm 1998 do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực có thể thấp hơn một ít).

Mục tiêu của APEC là nhằm xây dựng một cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương thông qua việc: 1) Giữ vững mức tăng trưởng và phát triển trong khu vực vì lợi ích chung của nhân dân các nước trong khu vực; 2) Khuyến khích gia tăng những thành tựu kinh tế tích cực thông qua việc nâng cao các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, bằng cách khuyến khích giao lưu hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ; 3) Tăng cường hệ thống thương mại đa phương vì lợi ích của nền kinh tế thế giới và các nước Châu Á - Thái Bình Dương; 4) Giảm bớt các hàng rào thương mại về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư giữa các nước thành viên một cách kiên định theo nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Những mốc quan trọng của APEC: năm 1993, các nhà lãnh đạo của APEC họp ở Blâykơ Aixlen (Blake Island, Hoa Kì) xác định một tầm nhìn chung của các nền kinh tế cộng đồng APEC; năm 1994, họp ở Bôgo (Bogor; Inđônêxia) cam kết đến năm 2010 thực hiện thương mại, đầu tư tự do và mở cho các nước đã công nghiệp hoá, đến năm 2020 thì thực hiện cho các nước đang phát triển; năm 1995, họp ở Ôxaka (Õsaka, Nhật Bản), thông qua lịch hành động Ôxaka, định ra một lịch trình tự do hoá thương mại và chương trình hợp tác kinh tế - kĩ thuật (ECOTECH); năm 1996, họp ở Xubich (Subic; Philippin) thông qua Kế hoạch hành động Manila (MAPA), hiệp thứ nhất của Kế hoạch hành động cá nhân (IAPS) và các Kế hoạch hành động tập thể (CAPS); năm 1997, họp ở Vancuvơ (Vancouver; Canađa), thoả thuận theo đuổi một sáng kiến nhằm sớm tự do hoá thương mại khu vực tự nguyện trên quy mô rộng lớn (EVSI). Hội nghị cấp cao lần thứ VI của APEC họp tại Kuala Lumpua (Malaixia; 14 - 18.11.1998) đã ra Tuyên bố Kuala Lumpua gồm 35 điểm, khẳng định lại niềm tin đối với nền tảng vững chắc và triển vọng phục hồi nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, đối phó với những thách thức đặt ra cho khu vực trong giai đoạn hiện nay.

Đối với các nền kinh tế, APEC có tác dụng: giúp cho sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, ủng hộ hệ thống thương mại đa phương; tăng thêm sự giàu có của các nước bằng cách hạ chi phí; cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh, thúc đẩy và hỗ trợ nó, do đó tăng thu nhập và tạo thêm việc làm trong vùng. APEC cũng có những khó khăn lớn: do trình độ phát triển chênh lệch giữa các nước [Nhật Bản có GDP đầu người 36315 USD (1996), Xingapo 25640 USD, trong khi Inđônêxia 950 USD, Trung Quốc 540 USD...], cho nên không thể quyết định được lịch trình tự do hoá giống nhau cho mọi nước; cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ từ giữa năm 1997 lan rộng, gây mất ổn định không chỉ về kinh tế, mà còn cả chính trị - xã hội ở khu vực. APEC cũng đứng trước những thử thách lớn, song nó đã làm được nhiều việc, tạo được nhiều kết quả tốt cho các nước trong 10 năm qua.

Hiện nay, APEC đang đứng trước một loạt công việc mới trong quá trình tiến tới hoàn thành vào năm 2010 - 2020 những nhiệm vụ cam kết ở Bôgo năm 1994 về thương mại và đầu tư tự do và mở. Bước vào thiên niên kỉ thứ ba, các nền kinh tế của APEC cần hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm: bảo đảm tính vững chắc của đà phát triển các nỗ lực tự do hoá; xem xét làm sao APEC với tư cách là một tổ chức tư vấn phi hình thức có thể gia tăng những mối liên kết trong vùng.

HỌC THUYẾT CỘNG ĐỒNG THÁI BÌNH DƯƠNG

những nguyên tắc về chính sách đối ngoại của Nhật Bản ở Châu Á - Thái Bình Dương, do thủ tướng Nhật Bản Nakaxônê (Y. Nakasone) đề xướng năm 1973. Đầu 1973, trước thất bại của Hoa Kì ở Đông Dương, giới cầm quyền Nhật Bản đã nêu trở lại những luận điểm của Học thuyết Đại Đông Á (x. Học thuyết Đại Đông Á), như "người Châu Á phải giúp người Châu Á", "trách nhiệm lãnh đạo Châu Á - Thái Bình Dương của Nhật Bản". Thủ tướng Nakaxônê chính thức tuyên bố sẽ vận động thành lập một Cộng đồng Thái Bình Dương mà thực chất là biến tướng của thuyết Đại Đông Á trước đây. Điểm khác trước là Nhật Bản tìm cách xâm nhập mạnh mẽ về kinh tế vào Trung Quốc, các nước ASEAN và nhiều nước khác ở Châu Á - Thái Bình Dương để từ đó biến vùng này thành phạm vi ảnh hưởng của Nhật Bản. Các nước trong khu vực tỏ thái độ dè dặt đối với học thuyết này.

HIỆP HỘI GIÁO DỤC KĨ THUẬT ĐÔNG NAM Á VÀ THÁI BÌNH DƯƠNG

(A. Association for Engineering Education in Southeast Asia and the Pacific - AEESEAP) tổ chức quốc tế. Thành lập năm 1973 với sự tài trợ của Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO). Thành viên (1999): gồm 15 thành viên chính thức là đại diện cho các trường đại học kĩ thuật quốc gia hoặc các hiệp hội khoa học kĩ thuật quốc gia hoặc các hiệp hội khoa học kĩ thuật của các nước Ôxtrâylia, Brunây, Fiji, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaixia, Niu Zilân, Papua Niu Ghinê, Trung Quốc, Philippin, Xingapo, Thái Lan và Việt Nam. Năm 1985, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được kết nạp vào Hiệp hội. Từ 1991, Liên hiệp các hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam với tư cách là đại diện cho các kĩ sư Việt Nam tham gia Hiệp hội. Ngoài các thành viên chính thức được quyền bỏ phiếu và ứng cử vào ban chấp hành và các tiểu ban chuyên môn của Hiệp hội, còn nhiều loại thành viên khác như thành viên thông thừờng đại diện cho bất kì trường đại học kĩ thuật hoặc hội kĩ sư nào có nguyện vọng tham gia hoạt động; thành viên cá nhân, thành viên tài trợ, thành viên danh dự, vv. Mục tiêu của Hiệp hội: thúc đẩy sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm thông tin trong lĩnh vực nâng cao, hoàn thiện giáo dục kĩ thuật, áp dụng các công nghệ mới trong đào tạo, đào tạo liên tục và quan hệ giữa đào tạo với sản xuất công nghiệp. Cơ cấu: Đại hội đồng của Hiệp hội ba năm họp một lần để thảo luận thông qua các báo cáo phương hướng hoạt động, bầu ban chấp hành và các tiểu ban, có kết hợp tổ chức các hội thảo khoa học. Chức danh chủ tịch, tổng thư kí và ban thư kí của Hiệp hội được bầu theo nhiệm kì và thuộc nước đăng cai điều hành hoạt động của Hiệp hội. Ngoài ra, còn có hai phó chủ tịch là đại diện của hai nước sẽ lần lượt đăng cai ở hai nhiệm kì tiếp theo. Hiệp hội xuất bản mỗi năm hai số: "Tạp chí AEESEAP về giáo dục kĩ thuật".

DIỄN ĐÀN CÁC QUẦN ĐẢO THÁI BÌNH DƯƠNG

(A. Pacific Islands Forum), một tổ chức chính trị quan trọng của khu vực Thái Bình Dương. Diễn đàn họp lần đầu tiên năm 1971 tại Oelinhtơn (Niu Zilân) với tên gọi Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (South Pacific Forum); đến 27.10.2000, đổi tên thành DĐCQĐTBD. Bảy thành viên sáng lập: Ôxtrâylia, Niu Zilân, quần đảo Cuc (Cook), Fiji, Nauru, Tônga và Tây Xamoa. Các thành viên gia nhập sau: Kiribati, Liên bang Micrônêdi, Niuê, Papua Niu Ghinê, quần đảo Xôlômôn (Solomon), Tuvalu, Vanuatu, quần đảo Macsan (Marshall), Palau (Palau). Quan sát viên: Tân Calêđôni và Đông Timo. Hằng năm, tổ chức cuộc họp của 16 nhà lãnh đạo chính phủ các thành viên nhằm thảo luận các vấn đề chung, phối hợp tiếng nói chung của cả khu vực trên diễn đàn quốc tế. Diễn đàn chú ý các vấn đề phát triển kinh tế, thương mại khu vực, ngoài ra cũng quan tâm cả vấn đề môi trường, an ninh và hợp tác khu vực. Là quan sát viên của Liên hợp quốc và diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Nghị quyết của các cuộc họp hằng năm được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận và không bỏ phiếu. Chủ tịch diễn đàn được bầu theo cơ chế luân phiên. Từ 1989, đã tổ chức các cuộc đối thoại sau diễn đàn về các vấn đề khu vực với các nước Canađa, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Anh, Hoa Kì, Liên minh Châu Âu (EU), Hàn Quốc, Malaixia, Philippin, Ấn Độ. Trụ sở: Xuva (Fiji).

ĐAI KIẾN TẠO THÁI BÌNH DƯƠNG

đai biểu hiện các hoạt động kiến tạo mạnh mẽ vào Trung sinh Tân sinh, phân bố trên các lãnh thổ bao quanh Thái Bình Dương. Đai có lịch sử phát triển địa chất cùng với các đặc điểm sinh khoáng mang tính khu vực riêng.