Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 32 bản ghi

YA LỐP

(cg. Ia Lốp), phụ lưu cấp I của sông Ya H'Leo. Bắt nguồn từ vùng núi cao 600 m, chảy theo hướng đông bắc - tây nam, nhập vào bờ phải sông Ya H'Leo. Dài 111 km, diện tích lưu vực 1.680 km2, độ cao trung bình 306 m, độ dốc trung bình 6,1%, mật độ sông suối 0,40 km/km2. Tổng lượng nước 1,5 km3 tương ứng với lưu lượng trung bình 29 m3/s, môđun dòng chảy năm 29 l/s km2.

XVINHLI U.

(Hulrych Zwingli; 1484 - 1531), người mở đường cho tư tưởng cải cách tôn giáo ở Thuỵ Sĩ. Xuất thân từ gia đình nông dân khá giả, tốt nghiệp đại học, trở thành tu sĩ Nhà thờ Zuyrich (Zürich). Từ 1516, đã nêu tư tưởng "rửa sạch tôn giáo" và đến 1519, đoạn tuyệt với giáo hoàng. Năm 1522, xuất bản tác phẩm 67 điều, phê phán nhà thờ và trình bày những quan điểm của mình về cải cách tôn giáo. Tư tưởng của Xvinhli ít nhiều mang tính chất dân chủ: người đứng đầu nhà thờ chỉ là một ông thầy có nhiệm vụ truyền bá giáo lí nguyên thuỷ; mục sư do công xã giáo dân bầu. Đã có ảnh hưởng đến Canvanh (J. C. Calvin), một trong những nhà cải cách tôn giáo hàng đầu ở Pháp.

VINHÔLA G. ĐA

(Giacomo da Vignola; 1507 - 73), kiến trúc sư Italia. Được đào tạo ở Bôlônhơ (Bologne), làm việc ở Rôma từ năm 1530, là một nghệ sĩ tài năng của nghệ thuật cổ điển, được coi là người nối tiếp những nghệ sĩ bậc thầy như Miken - Angiê (Michel - Ange) và Bramantê (Bramante). Các công trình quan trọng đã thực hiện: nhà biệt thự Giulia (Giulia; 1550 - 55), tòa biệt thự Facnedơ (Farnèse) ở Caprarôla (Caprarola) (1547 - 59), nhà thờ Thánh Anna Palafrenieri (Anna Palafrenieri) (bắt đầu từ 1572), nhà thờ Giêsu (Gesù) (bắt đầu từ 1568) là công trình có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kiến trúc nhà thờ kiểu barôc ở Châu Âu. Ông cũng là tác giả cuốn sách nổi tiếng về thức kiến trúc cổ điển (xuất bản năm 1562).

VĨNH LONG

 

tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích 1.475,2 km2. Gồm 1 thị xã (Vĩnh Long - tỉnh lị), 6 huyện (Long Hồ, Mang Thít, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm). Dân số 1.036.100 (2003), gồm các dân tộc: Khơ Me, Hoa, Kinh. Địa hình đồng bằng tích tụ gian sông và duyên hải. Sông Tiền, Cổ Chiên chảy qua phía bắc tỉnh; Sông Hậu là ranh giới phía tây nam tỉnh; sông Mang Thít chảy qua. Trồng lúa, cây ăn quả, mía. Chăn nuôi: tôm, trâu, gia cầm, cá, bò, lợn. Chế biến nông sản, thực phẩm, hải sản, thuốc lá, xay xát gạo. Sản xuất vật liệu xây dựng, dược phẩm, may mặc. Dịch vụ thương mại - du lịch. Giao thông: quốc lộ 1A, 53, 54, 80 chạy qua, giao thông đường thuỷ trên sông. Tỉnh được thành lập từ năm Minh Mạng thứ 13 (1832); từ 2.1976 hợp nhất với tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long; từ 26.12.1991, chia tỉnh Cửu Long trở lại tên cũ VL.

Vĩnh Long

LƯU VĨNH PHÚC

(Liu Yongfu; 1837 - 1917), thủ lĩnh quân Cờ đen, người Quảng Tây (Trung Quốc). Sau khi khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc thất bại, Lưu Vĩnh Phúc dẫn tàn quân sang Việt Nam (1867), đóng bản doanh ở BảoThắng, được nhà Nguyễn chiêu dụ đánh phỉ Cờ vàng, Cờ trắng, được phong chức Bảo Thắng phòng ngự sứ. Hợp lực với quan quân nhà Nguyễn chống Pháp xâm lược Bắc Kỳ và lập công lớn: năm 1873, diệt viên thiếu tá tổng chỉ huy quân Pháp Gacniê (F. Garnier) tại mặt trận Cầu Giấy; năm 1883, cũng tại mặt trận Cầu Giấy, diệt viên trung tá Rivie (H. Rivière), tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp xâm lược Bắc Kỳ. Được phong chức đề đốc hàm chánh nhị phẩm, tước nghĩa nam. Năm 1885, trở về Trung Quốc, tiếp tục đấu tranh chống các đế quốc xâm lược Trung Hoa, được phong kí danh đề đốc. Sau Cách mạng Tân Hợi (1911)ở Trung Quốc, giữ chức tổng trưởng Dân đoàn tỉnh Quảng Đông. Nhà riêng của Lưu Vĩnh Phúc ở Quảng Tây là nơi gặp gỡ, hội họp của các sĩ phu yêu nước Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền. Tại đây, Phan Bội Châu đã tập hợp các nhà yêu nước thành lập Việt Nam Quang phục hội (1912).

LƯƠNG THẾ VINH

(hiệu: Thuỵ Hiên; 1440 - ?), nhà thơ, nhà văn hoá Việt Nam. Người huyện Thiên Bản, nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đỗ trạng nguyên, là sái phu trong Hội Tao đàn. Nổi tiếng thần đồng, học rộng, tài trí khoáng đạt, bình dị, được vua và dân coi trọng. Khi chết, được thờ làm phúc thần. Thơ, văn, kí, bia, giáo khoa nhà chùa, văn từ bang giao, vv. do ông viết nặng tính chất quan phương, tôn giáo. Có ý nghĩa trong sự nghiệp trước tác của Lương Thế Vinh là cuốn "Đại thành toán pháp", biên soạn về toán học và "Hí phường phả lục", khảo cứu về hát chèo. Lê Quý Đôn khen Lương Thế Vinh là người "tài hoa danh vọng bậc nhất", đến nay người ta còn gọi là "Trạng Lường".

KHÁNH VĨNH

huyện ở phía tây tỉnh Khánh Hoà. Diện tích 1166,5 km2. Gồm 1 thị trấn (Khánh Vĩnh, huyện lị), 13 xã (Khánh Bình, Khánh Hiệp, Khánh Đông, Khánh Nam, Khánh Trung, Khánh Thượng, Sơn Thái, Giang Ly, Liên Sang, Cầu Bà, Khánh Phú, Khánh Thành, Sông Cầu). Dân số 26100 (1999), gồm các dân tộc: Chăm, Kinh. Địa hình đồi núi thấp dốc về hướng đông. Sông Cái chảy qua. Trồng rừng phòng hộ, khai thác gỗ, lá buông. Trồng: chuối, điều, lúa, ngô, vv. Trước 1977, huyện độc lập; tháng 3.1977, nhập với Khánh Xương thành huyện Diên Khánh. Tháng 6.1985, lập lại huyện Khánh Vĩnh trên cơ sở tách một phần huyện Diên Khánh thành Khánh Vĩnh, thuộc tỉnh Phú Khánh (1976); từ tháng 6.1989, thuộc Khánh Hoà.

KÊNH VĨNH TẾ

(cg. sông Vĩnh Tế), công trình lớn về giao thông, vận tải, thuỷ lợi. Bắt đầu đào từ 1819, Gia Long giao cho trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại phụ trách. Thời Minh Mạng tiếp tục, sau 5 năm mới hoàn thành (1819 - 24). KVT nối liền Châu Đốc với cửa biển Hà Tiên, chiều dài 205 dặm rưỡi (theo "Đại Nam thực lục chính biên"), tương đương với 87 km.

Vua Minh Mạng lấy tên vợ của Nguyễn Văn Thoại là Châu Vĩnh Tế đặt tên kênh là Vĩnh Tế.

Công trình đào KVT đã huy động hàng vạn nhân dân và binh lính một số vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long cùng với nhân dân và binh lính Cămpuchia ở vùng biên giới với Việt Nam. KVT có giá trị lớn về các mặt trị thuỷ, giao thông, thương mại, biên phòng, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân ta và chính sách coi trọng thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn.

HIỆP ƯỚC VỊNH HẠ LONG 1948

hiệp ước kí 5.6.1948 trên chiến hạm Đuygoay Tơroanh (Duguay Trouin) tại vịnh Hạ Long, giữa thủ tướng chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam Nguyễn Văn Xuân và Cao uỷ Pháp ở Đông Dương Bôlaec (É. Bollaert), với sự có mặt của đại biểu Nam Kỳ, Trung KỳBắc Kỳ Việt Nam là Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch. Bảo Đại chứng kiến và kí chứng nhận vào Hiệp ước. Nội dung: Pháp công nhận "độc lập" của Việt Nam, Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp; Việt Nam tôn trọng quyền lợi của Pháp, bảo đảm tôn trọng các nguyên tắc dân chủ, Việt Nam sẽ được ưu tiên sử dụng các cố vấn, kĩ thuật gia Pháp khi có các nhu cầu về tổ chức nội vụ và kinh tế; sau khi thành lập chính phủ, đại diện của Việt Nam sẽ thương lượng với Pháp để kí các hiệp định về văn hoá, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chính và kĩ thuật. Ngày 14.6.1948, Chính phủ Pháp tuyên bố chính thức công nhận Bảo Đại là quốc trưởng của Việt Nam.

"MÙA XUÂN VĨNH CỬU"

nhóm tượng khoả thân, bằng đồng, kích thước 65 x 42 cm của nhà điêu khắc Pháp Rôđanh Ô. (A. Rodin), để ở Bảo tàng Rôđanh, Pari. Rôđanh là nhà điêu khắc nổi tiếng, có công chấm dứt nền điêu khắc hàn lâm, mở đầu cho điêu khắc mới thế kỉ 20. "MXVC" được Rôđanh tạc cốt để gắn lên công trình hoành tráng "Cửa địa ngục" (1880 - 85, bằng đồng, 635 x 400 x 85 cm, gồm 186 pho tượng và phù điêu, Bảo tàng Rôđanh, Pari). Đây là một đề tài lớn, gồm những hình tượng phong phú và phức tạp, lấy ở trường ca "Hài kịch thiên thần" của nhà thơ Italia Đantê (Dante) thời Phục hưng, nói lên hành trình gian nan của mọi tâm hồn từ khổ đau đến hạnh phúc.

"MXVC" là tượng đôi nam, nữ khoả thân đang ôm ghì lấy nhau trong chiếc hôn. Rôđanh nói lên được tất cả các vẻ đẹp rạo rực của tình yêu trong nhịp thở say đắm của đường nét và hình khối, như mùa xuân mãi mãi căng đầy nhựa sống. Rôđanh đã thành công khi đồng nhất hoá tình yêu, mùa xuân và hạnh phúc.


"Mùa xuân vĩnh cửu"