Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 28 bản ghi

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

 tuyến đường vận tải người và vũ khí bằng đường biển từ Miền Bắc vào một số tỉnh Miền Nam Việt Nam trong Kháng chiến chống Mĩ. Ban đầu do Đoàn 759 (thành lập 23.10.1961) phụ trách; đến 29.1.1964, đổi là Đoàn 125, trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân. Chuyến đi đầu tiên từ Bắc vào Nam để thí nghiệm (cuối 1959) không thành công. Từ 7.1961, các tỉnh Miền Nam trực tiếp cử các đội thuyền ra Bắc nhận vũ khí. Lần lượt, đội thuyền các tỉnh: Bến Tre (11.6.1961), Cà Mau (7.8.1961)... ra Miền Bắc và chở vũ khí trở về an toàn. Dựa vào kinh nghiệm các chuyến đi đó, ngày 14.9.1962, tàu "Phương Đông 1" của Đoàn 759 đi chuyến đầu tiên cập bến Vàm Lũng (tỉnh Cà Mau) thành công. Năm 1963, đã chuyển được 1.318 tấn vũ khí cho các Quân khu 7, 8, 9; năm 1964 - 4 nghìn tấn (88 chuyến)... bằng các loại tàu, thuyền trọng tải từ 4 đến 100 tấn. Sau vụ bị lộ ở Vũng Rô (tỉnh Phú Yên; 1.2.1965), Mĩ và quân đội Sài Gòn mở chiến dịch "Phiên chợ" (A. Market times) để ngăn chặn. Lúc này tuyến ĐHCMTB mở rộng ra biển quốc tế, có chuyến đi đến gần vùng biển Philippin, Malaixia, Inđônêxia bằng phương pháp hàng hải thiên văn. Đến 1973, ĐHCMTB tạm ngừng hoạt động. ĐHCMTB là một kì tích về sự hi sinh dũng cảm và tính sáng tạo của Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân Miền Nam trong Kháng chiến chống Mĩ.

DÒNG VEN BỜ BIỂN

dòng chảy ven bờ biển trong vùng sóng vỗ chủ yếu chuyển động song song với bờ. Dòng chảy này sinh ra do sóng vỗ khi truyền vào đường bờ. DVBB nhiều khi đạt tới trị số gây ra xói bùn cát ven biển, ảnh hưởng đến sự ổn định của đê biển và các công trình ven biển khác.

DÒNG CHẢY BIỂN

(cg. hải lưu), sự chuyển dịch các phân tử nước từ nơi này tới nơi khác trên biển và đại dương. Ở ngoài khơi đại dương, nước thường xuyên chuyển dịch trên khoảng cách rất lớn (tới vài nghìn hải lí), dòng chảy và tốc độ xáo trộn của các khối nước luôn luôn không đổi trong thời gian dài. Xáo trộn đó chiếm những khối nước đại dương rất lớn, lan truyền thành những dải rộng trên mặt đại dương và xuống tới một lớp sâu nào đó. Ở các độ sâu và ở đáy lại tồn tại những xáo trộn của các phân tử nước chậm hơn, thường có hướng khác với hướng của các DCB trên mặt, tạo thành chu trình khép kín chung của nước đại dương thế giới. Các loại DCB: dòng chảy gió (trôi), dòng chảy triều (tuần hoàn), dòng chảy mật độ, vv.

ĐỘ MUỐI NƯỚC BIỂN

(cg. độ mặn), tổng lượng muối (tính ra gam) chứa trong 1 kg nước biển và quy ra phần nghìn (‰). Năm 1901, ĐMNB được định nghĩa là trọng lượng chung, tính bằng gam của tất cả các chất rắn hoà tan trong 1.000 gam nước biển, với điều kiện là brom được thay thế bằng clo tương đương, tất cả cacbonat đều biến thành oxit và tất cả chất hữu cơ đều bị đốt cháy (ở 480 oC). Độ muối còn có thể xác định bằng một hàm của độ clo. Độ muối lớn nhất là ở Biển Đỏ và vịnh Pecxich (Persique) hơn 42‰; ở Bắc Đại Tây Dương, độ muối trung bình là 37,9‰. Độ muối ở biển Việt Nam tăng từ bờ ra khơi về mùa khô ở tầng mặt: 33 - 34‰. Về mùa hạ, độ muối giảm đi nhiều nhất là gần các cửa sông lớn.

Khi thuỷ triều dồn vào trong sông, độ mặn lan truyền, khuếch tán và giảm dần. Nước sông có độ mặn trên 4‰ thường không dùng để tưới cây được. Thường vào tháng 3 hay tháng 4, khi dòng chảy của Sông Hồng và các sông ở đồng bằng Cửu Long đạt mức nhỏ nhất, giới hạn điểm mặn 2‰ lên cách cửa biển 30 - 40 km ở vùng cửa sông Thái Bình, 10 - 20 km ở vùng cửa Sông Hồng và 50 - 60 km ở vùng đồng bằng Cửu Long.

ĐÊ BIỂN

x. Đê.

ĐẤT CÁT BIỂN

đất phân bố ở ven biển, lớp mặt là cát hay cát pha, trắng xám, rải rác còn vỏ sò, ốc, hến. Đất thường khô hạn, nghèo chất dinh dưỡng, ít chua, dễ bị rửa trôi. Gồm có: đất cồn cát trắng và vàng, đất cồn cát đỏ, đất trồng cát, nơi khô cằn sát bờ biển, trồng phi lao làm rừng cây chắn gió chống di chuyển cát vào nội địa. Trồng rau, màu (khoai lang, lạc, đậu, vừng, vv.) dâu tằm, thuốc lá, cây ăn quả (dừa, cam, chanh, vv.) ở nơi sẵn nước tưới; nơi thấp trồng lúa. Biện pháp cải tạo: thuỷ lợi, chọn giống, giữ ẩm, bón phân hữu cơ. Việt Nam có trên nửa triệu hecta ĐCB.

BIỂN THỦ

 chiếm đoạt của công do mình có trách nhiệm quản lí, cất giữ hoặc dùng các thủ đoạn gian lận để biến của công thành của riêng. Hiện nay, trong Bộ luật hình sự Việt Nam, BT được hiểu là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để lấy cắp công quỹ. Tuỳ theo tình tiết cụ thể mà hành vi này bị xử dưới các tội danh: tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

BIỂN ĐÔNG

(địa lí), biển ở phía tây Thái Bình Dương, giữa bán đảo Đông Dương và các đảo Đài Loan, Luxông (Luzon), Palaoan (Palawan), Boocnêô – Kalimantan (Borneo – Kalimantan), Xumatơra (Sumatra). BĐ Việt Nam thông với Biển Đông Trung Hoa qua eo Đài Loan, với Thái Bình Dương qua eo Basi (A. Bashi canal; giữa đảo Đài Loan và đảo Luxông), với biển Xulu (Sulu) qua eo Minđôrô (Mindoro) và Balabac (Balabac) (giữa các đảo Luxông, Palaoan và Boocnêô), với biển Java qua các eo Karimata (Karimata) và Gaxpơ (Gaspe), với biển Anđaman (Andaman; Ấn Độ Dương) qua eo Mã Lai. Diện tích 3.537 nghìn km2, dài 3.000 km, nơi rộng nhất 1.000 km. Độ sâu trung bình 1.140 m, nơi sâu nhất 5.560 m. Khối lượng nước 3.928 nghìn km3. Diện tích thềm lục địa 2.640 triệu km2 (khoảng 76% diện tích toàn đáy biển). Các vịnh lớn (vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan) ăn sâu vào lục địa Á. Có hiện tượng thuỷ triều đa dạng và đặc sắc. Thường có bão trong mùa hạ và mùa thu. Đánh cá (cá ngừ, cá trích, vv.). Có những triển vọng lớn về nguồn khoáng sản dầu, khí. Đã khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam và Thái Lan. Các cảng chính: Băngkôc, Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh), Hải Phòng, Đà Nẵng,Cam Ranh,Bắc Hải, Hương Cảng, Quảng Châu (Guangzhou), Cao Hùng (Gaoxiong), Manila.