Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Tìm được 28 bản ghi

MỰC NƯỚC BIỂN TRUNG BÌNH

giá trị trung bình của các số liệu quan trắc mực nước biển trong một khoảng thời gian nhất định. Tuỳ theo khoảng thời gian quan trắc, phân biệt các mực nước trung bình ngày, tháng, năm, nhiều năm. Thông qua MNBTB nhiều năm, người ta có thể xác định các chuẩn số không độ cao lục địa và số không độ sâu (hải đồ).


MẶT MỰC CHUẨN CỦA BIỂN

mặt nước biển và đại dương thế giới. Nếu nước đại dương đồng nhất và yên lặng hoàn toàn thì mặt đại dương trùng với mặt phẳng vuông góc với hướng trọng lực, gọi là mặt nước hay mặt đẳng thế.

GIÓ BIỂN - GIÓ ĐẤT

hệ thống gió địa phương hình thành ở vùng ven biển, ven hồ lớn có sự tuần hoàn trong ngày rõ rệt. Ban ngày gió biển thổi vào đất liền (bị bức xạ Mặt Trời hun nóng). Ban đêm gió thổi từ đất liền (bị nguội) ra biển. Sự luân phiên GB - GĐ thường xảy ra vào buổi tối và buổi sáng. Giữa hai kì thay đổi hướng gió, thường có một giai đoạn lặng gió. Chiều cao của hệ thống gió vào khoảng vài trăm mét, chiều ngang vài chục kilômét.

DƯA BIỂN

 ( tk. hải sâm) x. Hải sâm.

ĐỘNG VẬT BIỂN

 các loài động vật sống ở biển và đại dương, gồm 57 trong số 60 lớp động vật tự di chuyển (không kể các loài động vật kí sinh) hiện có trên Trái Đất. ĐVB sống tập trung ở vùng nước nông nhiệt đới, đặc biệt là vùng các đảo san hô. Càng xuống sâu, số lượng loài và cá thể càng giảm, vd. ở độ sâu hơn 9 km chỉ còn gặp một ít loài động vật không xương sống. ĐVB được chia theo kiểu sống và cư trú thành 3 loại: động vật nổi (zooplankton), động vật bơi chủ động (neckton) và động vật đáy (zoobenthos). ĐVB còn được chia theo phân bố ở các tầng nước: ĐVB tầng mặt sống đến độ sâu 200 m, tầng giữa 200 - 750 hay 1.000 m, tầng sâu trên 1.000 m.

ĐVB có vai trò quan trọng đối với người và động vật ở cạn như làm thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu cho công, nông nghiệp. Một số loài gây hại như cá mập ăn thịt người, hà bám và phá các công trình ở biển. Nguồn lợi ĐVB ở Việt Nam rất phong phú: nhiều loài cá, giáp xác, thân mềm, bò sát, thú biển, vv. có giá trị kinh tế lớn. Cần có biện pháp bảo vệ nguồn lợi ĐVB, nhất là những vùng nước nông ven bờ đang bị khai thác quá mức (x. Thực vật biển).

DÒNG BIỂN NHẬT BẢN

(cg. Dòng chảy Kurô - Siô) x. Kurô - Siô.

DOI BIỂN

(Chiropsalmus sp.), loài sứa thuộc bộ Sứa miệng trễ (Rhizostomida), lớp Sứa (Scyphozoa), ngành Ruột khoang. DB phổ biến ở vùng ven biển Việt Nam vào mùa xuân hè. Là loài gây ngứa, do tế bào gai và các chất tiết độc của chúng.

ĐỘ TRONG SUỐT CỦA NƯỚC BIỂN

độ trong suốt được xác định bằng độ sâu từ mặt biển tới nơi không còn nhìn thấy đĩa tiêu chuẩn (đĩa trắng đường kính 30 cm); ở độ sâu đó, dòng ánh sáng bị suy yếu do tán xạ và bị hấp thụ hết. Đại lượng này gọi là độ trong suốt tương đối.

ĐỘ SÂU CỦA BIỂN

 độ sâu thực của biển tính từ mặt nước xuống đáy biển. Độ sâu ghi trong hải đồ tính từ số "0" độ sâu hay số "0" hải đồ (không kể độ cao mực nước triều lên xuống tại điểm đó). Để xác định độ sâu, người ta sử dụng quả nặng buộc vào dây thừng (hay cáp). Ngày nay, máy đo sâu hồi âm cho phép ghi liên tục độ sâu trên suốt hành trình của con tàu.

ĐỘ NÉN CỦA NƯỚC BIỂN

nước biển hầu như không chịu nén. Chính xác hơn, trong điều kiện tiêu chuẩn, hệ số nén của nó là 0,000046/1 bar (1 bar trong hải dương học bằng 105 bar trong vật lí). Độ lệch của đại lượng này do sự biến đổi của nhiệt độ và độ muối không lớn lắm. Mặc dù ĐNCNB nhỏ, nhưng nếu không bị nén thì mực nước đại dương thế giới sẽ cao hơn mực nước thực tế khoảng 30 m.