Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TIẾT

khí hậu trung bình trong từng khoảng 14 - 16 ngày, được xác định theo ảnh hưởng của Mặt Trời đối với Trái Đất, căn cứ theo vị trí của Mặt Trời di chuyển trên hoàng đạo. Người ta chia hoàng đạo thành 12 phần bằng nhau gọi là 12 cung hoàng đạo thì ở trên Trái Đất ứng với mỗi cung có một T tương ứng. T ứng với lúc Mặt Trời di chuyển từ đầu cung đến giữa cung gọi là trung khí, T ứng với lúc Mặt Trời di chuyển từ giữa cung đến hết cung gọi là tiết khí. Một năm có 24 T: 12 trung khí và 12 tiết khí. Tên và ngày bắt đầu của 24 T được đưa vào trong các lịch xuất bản hằng năm. T là tư duy độc đáo (trong lịch pháp) của âm dương lịch Á Đông, xác định diễn biến chung của khí hậu từng thời kì trong năm ở Trung Quốc, chủ yếu ở Trung Nguyên. Dựa vào đặc điểm của T để xác định giai đoạn thích hợp cho sự phát triển của từng loại cây trồng. Các T được phân chia vào các tháng trong năm như sau: tháng giêng lập xuân (đầu xuân) - vũ thuỷ (ẩm ướt); tháng hai: kinh trập (sâu nở) - xuân phân (giữa xuân); tháng ba: thanh minh (trong sáng) - cốc vũ (mưa rào); tháng tư: lập hạ (sang hè) - tiểu mãn (duối vàng); tháng năm: mang chủng (tua rua) - hạ chí (giữa hè); tháng sáu: tiểu thử (nắng oi) - đại thử (nóng nực); tháng bảy: lập thu (đầu thu) - xử thử (mưa ngâu); tháng tám: bạch lộ (nắng nhạt) - thu phân (giữa thu); tháng chín: hàn lộ (mát mẻ) - sương giáng (sương sa); tháng mười: lập đông (sang đông) - tiểu tuyết (hanh heo); tháng mười một: đại tuyết (khô úa) - đông chí (giữa đông); tháng mười hai: tiểu hàn (chớm rét) - đại hàn (giá rét).

Tuy nhiên, vì nội dung các T hiện dùng được xác định cho vùng trung hạ du của lưu vực sông Trường Giang và Hoàng Hà (Trung Quốc) nên đối với Việt Nam có nhiều chỗ không hợp. Muốn sử dụng chúng có hiệu quả phải xác định lại nội dung T cho từng vùng ở Việt Nam. Xt. Âm dương lịch.