Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NHIỆT ĐỘNG HỌC

(cg. nhiệt động lực học), môn học được bắt đầu xây dựng trên cơ sở hai nguyên lí rất tổng quát: nguyên lí thứ nhất (nguyên lí bảo toàn năng lượng) và nguyên lí thứ hai của nhiệt động học (nguyên lí entropi). NĐH ra đời bắt đầu từ việc nghiên cứu các động cơ nhiệt và các vấn đề về biến đổi nhiệt ra công (do đó có tên gọi như hiện nay), sau đó được mở rộng và áp dụng rộng rãi cho toàn bộ vật lí học, hoá học, không chỉ các hiện tượng nhiệt mà cho cả các hiện tượng điện và từ, các phản ứng hoá học, vv.; tóm lại là cho mọi hiện tượng trong tự nhiên liên quan đến khái niệm nhiệt độ. Sau còn thêm một nguyên lí thứ ba gọi là nguyên lí Nenxtơ [lấy theo tên nhà vật lí học và hoá học người Đức Nenxtơ V. H. (W. H. Nernst)]. Theo quan niệm hiện đại, NĐH là ngành vật lí nghiên cứu các tính chất nhiệt của những hệ vĩ mô dựa trên một số nguyên lí tổng quát hoá từ các sự kiện thực nghiệm. NĐH xét những hệ trong trạng thái cân bằng và sự chuyển hệ sang trạng thái cân bằng khác được gọi là NĐH cân bằng hay NĐH cổ điển. Hiện nay NĐH đã có những tiến bộ đáng kể trong việc mở rộng, để có thể áp dụng cho cả những hệ không cân bằng. Bộ phận này được gọi là NĐH không cân bằng (hoặc NĐH các quá trình không thuận nghịch) liên quan với tính có chiều của thời gian. NĐH theo nghĩa rộng được hiểu là bao gồm cả NĐH cổ điển và NĐH các quá trình không thuận nghịch. Xt. Nguyên lí I của nhiệt động học; Nguyên lí II của nhiệt động học; Nguyên lí III của nhiệt động học.