Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĐỊA MÁNG

miền sụt lún hoạt động mạnh ở thời kì đầu của vỏ Trái Đất, có dạng hẹp và kéo dài (hàng chục, hàng trăm kilômét; có thể đến hàng chục nghìn kilômét), rộng độ vài chục đến 150 km. Ranh giới của ĐM thường được khống chế bởi các đứt gãy sâu, đứt gãy khu vực. Lấp đầy bởi các trầm tích dày tướng biển và núi lửa.

Trải qua quá trình phát triển lâu dài và phức tạp, chịu tác động của các chuyển động kiến tạo và các hoạt động xâm nhập của macma, ĐM được nâng lên, bị biến dạng, uốn nếp, chuyển thành công trình tạo núi. Vd. ĐM Anpơ (Alpes), ĐM Việt - Lào (Trường Sơn Bắc). ĐM thường phân bố ở đới chuyển tiếp giữa đại dương và lục địa, hoặc giữa lục địa và lục địa. Được xem là miền chuyển tiếp từ vỏ đại dương sang vỏ lục địa. Trong giai đoạn hiện nay, cung đảo bên cạnh máng nước sâu của miền tây Thái Bình Dương được coi là một ĐM đang trong quá trình hình thành. Tuỳ theo quy mô, tính phức tạp trong lịch sử phát triển địa chất, người ta phân ra đai ĐM, miền ĐM, ĐM. Trong ĐM còn phân ra các đơn vị kiến tạo nhỏ hơn: địa vồng, là phần nâng cao tương đối; địa võng là phần sụt lún, phức nếp lồi, phức nếp lõm, vv.

Khái niệm ĐM do nhà địa chất học Hoa Kì Hôn (J. Hall) nêu ra năm 1859, sau đó được nhiều nhà địa chất phát triển thành học thuyết dùng để giải thích lịch sử phát triển kiến tạo của vỏ Trái Đất, chỉ đạo công tác tìm kiếm thăm dò các khoáng sản trong lục địa. Tuy nhiên, nhiều vấn đề lịch sử cấu trúc vỏ Trái Đất khó lí giải bằng học thuyết ĐM. Những vấn đề đó ngày nay được giải thích thoả đáng hơn bằng thuyết kiến tạo mảng (kiến tạo toàn cầu).

 


Sơ đồ địa máng [theo nhà địa chất học người Pháp Ôboanh (J.  Aubouin)]