Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĐỊA HOÁ HỌC

bộ môn của địa chất học, nghiên cứu về hoá học của Trái Đất, về thành phần và sự phân bố các nguyên tố và các đồng vị trên toàn bộ Trái Đất; những quá trình vật lí và hoá học là nguyên nhân gây ra sự phân bố đó, mục đích là phát hiện ra quy luật chung về hành vi của các nguyên tố trên phạm vi toàn hành tinh, do Sônben (C. F. Schönbein) đặt ra từ 1838. Những nhà khoa học có công đầu trong việc xây dựng bộ môn ĐHH là Clac (F. W. Clarke), Gônsmit (V. M. Goldschmidt), Vecnatxki (V. I. Vernadskij) và Fecxman (A. E. Fersman).

Tuỳ theo điều kiện hoá lí, người ta phân biệt: 1) ĐHH nội  sinh nghiên cứu sự thành tạo và sự vững bền của các khoáng vật ở nhiệt độ cao và áp suất cao. 2) ĐHH ngoại sinh nghiên cứu các quá trình xảy ra trên bề mặt Trái Đất, dưới tác dụng của nước, không khí và các sinh vật, tức là các quá trình phong hoá, dịch chuyển và lắng đọng. 3) Địa hoá đồng vị nghiên cứu nguyên nhân sự thay đổi hàm lượng các đồng vị của các nguyên tố, ứng dụng trong việc xác định cổ nhiệt độ của biển hoặc tuổi tuyệt đối các đá. 4) Địa hoá hữu cơ nhằm khôi phục tính chất và nguồn gốc của vật chất hữu cơ hoá thạch, sự phát sinh của hiđrocacbon, do đó giúp cho sự tìm kiếm dầu mỏ và khí đốt. Địa hoá hữu cơ đã chứng minh sự có mặt của axit amin và các bazơ nitơ trong Tiền Cambri, chứng tỏ các quá trình sinh học đã có từ rất sớm và phức tạp từ thời xa xưa. 5) Địa hoá vũ trụ nghiên cứu thành phần hoá học các thiên thể (Mặt Trăng, thiên thạch...) giúp cho việc xác định tuổi của Hệ Mặt Trời. 6) Địa hoá ứng dụng sử dụng các quy luật địa hoá học trong việc tìm kiếm các mỏ khoáng sản.

Tính chất của các nguyên tố là do: hoá trị, tính âm điện, thế năng ion hoá, do tính chất hình học, bán kính ion, liên kết phối trí và hàm lượng của chúng trong các bộ phận khác nhau của Trái Đất quyết định. Trong tự nhiên, các nguyên tố thường ở trạng thái hợp chất. Tuỳ theo tập hợp của các nguyên tố hay đi với nhau, Gônsmit đã phân loại thành các nguyên tố ưa sắt, thường hay đi với sắt như molipđen, vonfram, rađi, sắt, coban, niken, osimi, iriđi, platin; nguyên tố ưa lưu huỳnh, hay đi với lưu huỳnh như lưu huỳnh, selen, telu, poloni, asen, antimon, bitmut, bạc; nguyên tố ưa đá hợp với oxi trong các silicat như liti, natri, xesi, berili, magie, canxi, stronti, bari, rađi, scanđi, ytri, lantan, titan, kẽm, hafini, silic, nhôm, bo; nguyên tố ưa khí: hiđro, nitơ, neon, amerixi, kripton, rađon, vv.