Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĂN MÒN CỦA NƯỚC

tác dụng phá hoại vật liệu do phản ứng hoá học và hoá lí của nước đối với vật liệu.

Tuỳ theo dạng phản ứng, phân ra nhiều loại ăn mòn: 1) Ăn mòn rửa lũa thực chất là sự hoà tan do tính chất lưỡng cực của nước gây ra. Mỗi cực của phân tử nước có thể kéo một cực của thành phần của vật liệu hoà tan trong nước. Vd. thành phần vôi (CaCO3) trong xi măng có thể hoà tan trong nước tới một giới hạn nhất định. Cho nên nước chỉ có thể ăn mòn rửa lũa bê tông chế tạo bằng xi măng khi trong nước không có hoặc có rất ít ion HCO3. 2) Ăn mòn tổng axit gây ra do tính chất axit của nước. Nước có tính axit có thể ăn mòn bê tông, ăn mòn sắt thép và một số kim loại khác. 3) Ăn mòn cacbonic đối với bê tông, gây ra khi lượng khí cacbonic hoà tan trong nước vượt quá lượng cân bằng theo phản ứng:

CaCO3 + CO2 + H2O  2HCO3 + Ca2+

Đây là một phản ứng thuận nghịch: ở trạng thái cân bằng, CO2 trong nước có một tương quan nhất định với HCO3 và Ca2+, lượng CO2 đó gọi là CO2 cân bằng. Nếu trị số CO2 vượt quá lượng cân bằng đó, phản ứng sẽ chuyển sang phải tức CaCO3 (trong bê tông) bị ăn mòn. 4) Ăn mòn sunfat thực chất là sự công phá đối với bê tông, do hàm lượng ion SO2– trong nước cao, có thể kết hợp với ion Ca2+ tạo thành thạch cao mang theo nước kết tinh (CaSO4.2H2O) lắng đọng trong các khe nứt hẹp của bê tông. Sự tăng thể tích của thạch cao kết tinh gây ra tác dụng chèn ép bê tông, gây nên sự công phá của sunfat. 5) Ăn mòn magie đối với bê tông, do hàm lượng của magie ở trong nước cao. Cơ chế ăn mòn magie như thế nào hiện nay vẫn chưa rõ.

Tuy nhiên mức độ ĂMCN (có ăn mòn hay không, ăn mòn nhiều hay ít) còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác, trong đó quan trọng nhất là loại vật liệu được sử dụng, tính chất thấm nước của đất đá xung quanh vật liệu.