Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHÂN ĐẦU

(Cephalopoda), lớp động vật tiến hoá nhất của ngành Thân mềm (Mollusca). Tổ chức cơ thể và cấu tạo các cơ quan phức tạp, sai khác nhiều so với sơ đồ cấu tạo chung của cả ngành. Phần chân tập trung về phía đầu, phân hoá thành các tay và một phễu cơ thoát nước. Phần bao nội tạng đưa về phía đối diện với đầu. Xoang áo dịch về phía bụng. Các cơ quan thần kinh, cảm giác, tuần hoàn, sinh dục... có thêm nhiều cấu tạo mới. Vỏ có xu hướng tiêu giảm dần, vd. ốc anh vũ (Nautilus) có vỏ rộng tròn như một buồng nổi nhưng ở loài mực hiện đại chỉ còn lại nang mực (vỏ) ở bên trong như Mực nang (Sepia) và giảm dần ở Mực ống (Loligo). Đáng chú ý nhất ở CĐ là hệ thần kinh có cấu tạo phức tạp, được bọc trong bao sụn. Mắt có cấu tạo, tính năng hoạt động ngang với mắt động vật có xương sống, do đó chúng có thể nhận biết các vật có hình dạng khác nhau. Tất cả các loài CĐ đều sống ở biển, di động nhanh. Ăn thịt. Có khoảng 600 loài còn sống và khoảng 11 nghìn loài hoá thạch, chia thành ba phân lớp: 1) Bốn mang (Tetrabranchia) có nhiều tay, số tay chưa cố định, các cơ quan như mang, tâm nhĩ, thận đều có hai đôi; phễu thoát nước có dạng máng hở, vỏ ngoài phát triển; đại diện là Nautilus sống ở Ấn Độ Dương, Nam Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, gặp Nautilus pompilius. 2) Hai mang (Dibranchia) với số lượng tay cố định (8 hoặc 10); mang, tâm nhĩ, thận chỉ có một đôi, phễu thoát nước hình ống, vỏ ngoài tiêu giảm dần lẫn vào trong. Đại diện mực ống (Loligo formosana), mực nang (Sepia tigris), bạch tuộc (Octopus). Ở biển Việt Nam, gặp 40 loài. 3) Cúc thạch (Ammonoidea) gồm những CĐ hoá thạch có ý nghĩa định tầng tốt trong địa chất. Vỏ phần lớn cuộn tròn theo một mặt phẳng và gồm nhiều buồng, giữa các buồng thông nhau bằng ống xi phông, vách ngăn giữa các buồng có dạng từ đơn giản đến phức tạp và thể hiện trên bề mặt vỏ thành dạng đường khâu. Trên cơ sở dạng của xi phông và đường khâu, Cúc thạch được phân thành: Clymenites có xi phông ở phía lưng, đường khâu đơn giản, chỉ sống ở cuối kỉ Đêvôn; Cúc thạch góc (Goniatites) - xi phông ở phía bụng, đường khâu đơn giản dạng góc, sống từ kỉ Đêvôn đến kỉ Pecmi; Cúc thạch sừng (Ceratites) - xi phông ở phía bụng, đường khâu có dạng lồi lõm (đường thuỳ yên), sống trong kỉ Triat; Cúc thạch chính thức (Ammonites) - xi phông ở phía bụng, đường khâu (đường thuỳ yên) lồi lõm phức tạp dạng khía rau mùi, sống từ kỉ Triat đến kỉ Krêta.

CĐ xuất hiện từ đầu đại Palêôzôi với các dạng đặc trưng trong đại này như Orthoceras, Clymenites, Goniatites. Đặc biệt phát triển và tiến hoá nhanh trong đại Mêzôzôi (các nhóm Ceratites, Ammonites, Belemnites). Các loài CĐ hiện đại được coi như các dạng sống sót của lớp CĐ. CĐ là nguồn thực phẩm có giá trị (mực, bạch tuộc); ngoài ra mai mực được dùng làm dược liệu và mực của nó được dùng để chế thuốc vẽ.