Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
BĂNG HÀ

 (tk. sông băng), những khối băng hình thành do tuyết tích đọng dần, có khả năng chuyển động, chảy chậm chạp. Trên mặt Trái Đất, diện tích BH khoảng 16,1 triệu km2, khối lượng băng 30 triệu km3. Phân biệt các loại BH: BH lục địa – những lớp băng dày, phủ trên diện tích rộng của vùng địa cực, có thể hình thành những lưỡi băng kéo dài ra tận biển nhưng đôi khi bị đứt tách, tạo nên núi băng trôi nổi trên mặt đại dương; mũ băng lớp băng dày, phủ trùm các đỉnh núi cao; băng treo băng đọng trong các thung lũng treo trên các dãy núi cao; băng thung lũng bắt nguồn từ băng treo, tách thành các lưỡi băng dài ngắn khác nhau và có thể tạo nên mạng lưới dòng chảy như mạng lưới sông suối. Tuy chảy chậm nhưng BH cũng có tác dụng phá huỷ đá và tạo trầm tích. Các tảng đá bị băng cuốn theo và tích đọng lại (băng tích), thường có vết xước, thể hiện sự cọ xát giữa chúng với các vật thể cứng trong quá trình chuyển vận.

Trong lịch sử địa chất, có những thời kì khí hậu trên mặt Trái Đất đặc biệt lạnh, BH phát triển rộng rãi. Những thời kì BH lớn đã được phát hiện là Tiền Cambri, Cambri, Cacbon, Đệ tứ. Riêng trong kỉ Đệ tứ có đến bốn băng kì, khi đó khí hậu lạnh giá, BH lan tràn ở Bắc Bán Cầu, mực nước biển hạ thấp. Vào các thời kì đó, Châu Á và Bắc Mĩ nối liền nhau qua eo biển Bêrinh (Bering), Việt Nam và Inđônêxia cũng nối liền nhau. Giữa các băng kì có xen các kì tan băng trong điều kiện khí hậu ấm, băng tan và mực nước biển dâng cao gọi là thời kì gian băng. Băng kì cuối cùng của Đệ tứ kết thúc cách đây khoảng 10 nghìn năm. Hiện nay loài người đang sống trong thời kì gian băng. Xt. Thời kì gian băng.