Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRIAT

(A. Triassic) 1. Hệ đầu tiên kể từ dưới lên của giới Mêzôzôi, do Anbecti (V. Alberti) xác lập năm 1834 trên cơ sở các mặt cắt địa chất ở Đức. Hệ được chia thành ba thống: hạ, trung và thượng. Việc phân bậc chỉ có sự thống nhất đối với thống T trung, còn hai thống kia đều có vấn đề tranh luận. Trong khi đó, ở nhiều vùng trên thế giới phổ biến các thang phân đới hệ T dựa vào Cúc đá (Ammonoidea) hay Răng nón (Conodonta). Trầm tích T thường được định tuổi theo hoá thạch Thân mềm, đôi nơi theo Răng nón.

Ở Việt Nam, trầm tích T phổ biến rộng rãi trong địa phận của Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, trung và hạ lưu Sông Đà, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Ngoài ra, còn thấy chúng rải rác ở các vùng Nông Sơn, Gia Lai, Đồng Nai và đảo Hòn Nghệ. Đặc biệt, trong T thượng có hệ tầng chứa than tạo nên những mỏ than quan trọng nhất ở Việt Nam.

2. Kỉ đầu tiên của đại Mêzôzôi, bắt đầu cách đây khoảng 250 triệu năm và kéo dài khoảng 45 triệu năm. Trong kỉ T không có các chuyển động kiến tạo mạnh. Ở các bồn biển, các nhóm sinh vật đặc trưng cho Palêôzôi (Bọ ba thuỳ, Trùng tia, San hô bốn tia) bị tuyệt diệt, nhường chỗ phát triển cho nhóm Ammonit (Cúc đá) và Chân rìu. Trên cạn, bắt đầu phát triển Bò sát kích thước lớn. Đồng thời, thực vật Mesophyta cũng bắt đầu lan tràn (Quả nón, Thảo quả).