Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MỎ KẼM CHỢ ĐIỀN

mỏ kẽm nằm ở phía nam núi Sam Sao (Bắc Cạn), cách thị trấn Chợ Điền 8 km về tây bắc, cách thị xã Bắc Cạn 36 km. Mỏ quặng đa kim (kẽm - chì) Chợ Điền được người Trung Hoa phát hiện và khai thác từ thế kỉ 18. Cuối thế kỉ 19, người Pháp phát hiện lại và đầu thế kỉ 20 tiến hành khai thác. Sản lượng hàng năm đạt tới khoảng 8 nghìn tấn chì kẽm. MKCĐ gồm nhiều khu riêng biệt: Phia Khao, Lũng Hoài, Mán, Cuốc, La Poăng (La Pointe), Bô Luông, Đèo An, Bình Chai, vv. Các thân quặng thường gặp ở dạng mạch, mạch phân nhánh, mạch dạng ngọn lửa, đôi khi dạng vỉa. Quặng nguyên sinh gồm sfalerit, galenit, pirit, asenopirit, pirotin, một ít chancopirit, bulangerit, giêmsônit. Khoáng vật mạch gồm thạch anh, canxit, đolomit, siđerit. Đá vây quanh thân quặng thường bị silic hoá, xerixit hoá, đolomit hoá. Phần trên các thân quặng thường bị oxi hoá mạnh. Quặng oxi hoá gồm calamin, smitsonit, hiđrozinkit, anglezit, xerixit, piromafit, gơtit, hiđrogotit, hiđrohematit, scorođit, psilomelan, vv. Với hàm lượng quặng gốc: kẽm 10 - 20%, chì 0,3 - 4%, vàng 0,4 - 1,89 kg/t, bạc 2,7 kg/t, cađimi 0,3 - 4%. Quặng oxi hoá gồm calamin và smitsonit là đối tượng khai thác chính hiện nay ở MKCĐ. Trữ lượng quặng đa kim ở MKCĐ khoảng 500 nghìn tấn Zn - Pb, trong đó quặng sunfua: 195 nghìn tấn và gần 300 nghìn tấn quặng oxi hoá. Quặng đa kim Chợ Điền thuộc thành tạo nhiệt dịch, nhiệt độ trung bình, là mỏ chì kẽm lớn nhất ở Việt Nam hiện nay.