Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MỎ CROMIT CỔ ĐỊNH

mỏ khoáng, liên quan với khối đá siêu bazơ (siêu mafit) Núi Nưa - nguồn cung cấp cromit để tạo mỏ sa khoáng. Nằm cách thị xã Thanh Hoá 18 km về phía tây nam. Sa khoáng tập trung ở phía đông dãy núi Nưa, trong trầm tích Đệ tứ. Mỏ được phát hiện năm 1927, Công ti Pháp bắt đầu khai thác từ 1930. Trong các năm 1930 - 31, Pháp đã khai thác được 4.231 tấn tinh quặng. Trong 3 năm 1942 - 1944, Nhật khai thác được 12.377 tấn tinh quặng. Mỏ được phục hồi sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc từ 1956, sản lượng tinh quặng đạt cao nhất 36.084 tấn vào 1963. Từ 1965 đến 1984, đã khai thác được 353.629 tấn tinh quặng chứa 46% Cr2O3. Sản lượng khai thác trong những năm gần đây chỉ xấp xỉ 10 nghìn tấn tinh quặng. Sa khoáng phân bố ở phía đông núi Nưa với diện phân bố 40 - 50 km2, dài 9 - 13 km, rộng 4 km. Ba khu mỏ đã được thăm dò là: Tinh Mễ - An Thương, Mĩ Cái - Hoà Yên và Mậu Lâm - Bản Áng với tổng trữ lượng 21,5 triệu tấn tinh quặng Cr2O3, kim loại đi kèm trên 3 triệu tấn Ni và 281 nghìn tấn Co. Chất lượng tinh quặng: Cr2O3: 42,7 - 51,54%; Fe2O3: 11,6%; FeO: 18,5 - 19%; Al2O3: 11,6%; MgO: 8,3 - 14,4%; TiO2: 0,3 - 0,6%. Thành phần độ hạt: < 0,07="" mm:="" 1,3="" -="" 6,75%;="" 0,07="" -="" 0,28="" mm:="" 62,2="" -="" 85,4%;="" 0,28="" -="" 0,4="" mm:="" 7,3="" -="" 22,4%;="" 0,4="" -="" 0,7="" mm:="" 0,36="" -="" 14%="" và=""> 0,7 mm: 0,05 - 1,1%. Sa khoáng gồm ba thân quặng, có giá trị nhất là thân quặng giữa với bề dày dao động từ 0,65 đến 34,5 m. Là mỏ cromit có giá trị duy nhất ở Đông Nam Á.