Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĐỘNG ĐẤT

hiện tượng rung động đột ngột mạnh mẽ của vỏ Trái Đất do sự dịch chuyển các mảng thạch quyển hoặc các đứt gãy trong vỏ Trái Đất và được truyền qua những khoảng cách lớn dưới dạng các dao động đàn hồi. ĐĐ chủ yếu có liên quan với sự biến đổi của nội lực kiến tạo. Đại đa số ĐĐ xảy ra ở đới hút chìm các mảng thạch quyển hoặc ở dọc các đứt gãy sâu. Nhưng cũng có loại ĐĐ do ngoại lực (sự trượt lở đất đá với khối lượng lớn hoặc sự mất cân bằng trọng lực ở những nơi có hồ chứa lớn cho nhà máy thuỷ điện). Nơi phát sinh dịch chuyển của ĐĐ được gọi là chấn tiêu (hoặc lò ĐĐ). Hình chiếu của chấn tiêu lên mặt đất gọi là chấn tâm. Cường độ ĐĐ ở mặt đất được xác định theo thang ĐĐ, hoặc bằng đại lượng manhitut (x. Thang động đất).

ĐĐ trên thế giới thường tập trung ở hai đới: đới vòng quanh Thái Bình Dương và đới từ Địa Trung Hải qua Himalaya (Himālaya) vòng xuống Malaixia. Hai đới này cũng là nơi tập trung nhiều núi lửa đã tắt và đang hoạt động. ĐĐ ở Chilê năm 1960 là ĐĐ mạnh nhất (8,9 độ richte), có năng lượng lớn gấp trăm lần năng lượng bom nguyên tử đã thả ở Hirôsima (Hiroshima). Ở Việt Nam, ĐĐ chủ yếu tập trung ở dọc đứt gãy Lai Châu - Điện Biên, ở phía đông bắc trũng Hà Nội, dọc theo Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Đà, Sông Mã, Sông Cả, ven biển Nam Trung Bộ. ĐĐ ở Điện Biên Phủ (1.11.1935) đạt tới 6,75 độ richte, cấp 8 - 9 của thang ĐĐ, độ sâu chấn tiêu là 25 km. ĐĐ ở Tuần Giáo (Lai Châu, xảy ra ngày 24.6.1989) đạt tới 6,7 độ richte, cấp 8 - 9, độ sâu chấn tiêu là 23 km và gần đây ĐĐ xảy ra ngày 19.2.2001 đạt 5,3 độ richte.