Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĐỆ TỨ

(cg. Nhân sinh, Antropogen), 1. Hệ cuối cùng của thang thời địa tầng, tức là hệ trên cùng của giới Kainôzôi. Hệ chủ yếu gồm các trầm tích bở rời, thành tạo dưới tác dụng của các dòng chảy, hình thành trong các thung lũng sông ngòi và các tam giác châu.

Hiện nay phổ biến 2 cách phân chia trầm tích ĐT: a) Phân thành 2 thống Plêittoxen và Holoxen, trong đó Plêittoxen được chia làm 3 phụ thống hạ, trung và thượng. b) Phân thành 4 thống: Plêittoxen hạ hay Eoplêittoxen, Plêittoxen trung hay Mêzôplêittoxen, Plêittoxen thượng hay Nêôplêittôxen và Holoxen. Ở những vùng có hiện tượng đóng băng trong ĐT thì việc chia nhỏ hệ này dựa vào các giai đoạn đóng băng và giai đoạn tan băng xen kẽ, gọi tên theo các kì băng và các kì gian băng. Ở Việt Nam, trầm tích ĐT phát triển rộng rãi ở tam giác châu Sông Hồng, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, đồng bằng ven biển Thanh Hoá, các thung lũng giữa núi Điện Biên, Nghĩa Lộ và các thung lũng dọc theo các sông lớn. Đó là các bồi tích với độ hạt to nhỏ thay đổi theo vùng. Ngoài ra, các hệ tầng đá bazan ở Nghệ An, Trung Bộ và Nam Bộ, các thành tạo cồn cát ven biển, các trầm tích hang động cũng thuộc hệ ĐT.

2. Kỉ cuối cùng trong lịch sử phát triển địa chất của Trái Đất, bắt đầu cách đây khoảng 1,6 - 2,5 triệu năm và được đánh dấu bởi sự xuất hiện của loài người. Dựa vào sự tiến hoá của loài người, các nhà khảo cổ phân chia ra các thời kì đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Trong kỉ này, ở nhiều vùng thuộc Bắc Bán Cầu từng thời kì xảy ra hiện tượng nhiệt độ khí quyển giảm mạnh, gây nên sự đóng băng rộng lớn, có nơi tạo nên tầng băng dày hàng nghìn mét, xen với những giai đoạn ấm hơn gây ra sự tan băng. Do đó, thế giới sinh vật cũng biến đổi về số lượng và sự phân bố. Một số đã bị tiêu diệt hoàn toàn như voi mamut, tê giác rậm lông, vv. Kỉ này còn được gọi là Nhân sinh (Antropogen) do sự xuất hiện và phát triển của loài người. Tuy nhiên, thuật ngữ Nhân sinh ít được sử dụng.