Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ĐIÊU KHẮC

nghệ thuật tạc, nặn để làm hiện lên từ một khối nguyên liệu cứng (gỗ, đá, xương, ngà...) một hình thể mĩ thuật nổi khối trong không gian, nhằm thoả mãn một mĩ cảm nhất định. Nếu là nguyên liệu mềm, lỏng (các kim loại, chất dẻo, thạch cao...) thì ĐK được đổ khuôn trên bản mẫu bằng đất, hay chất tổng hợp. ĐK có mục đích khác hội hoạ là khai thác hình tượng nghệ thuật bằng ba chiều không gian (ngang, dọc, sâu). ĐK hiện đại còn thực hiện một chiều thứ tư, đó là thời gian và những chất liệu khác như ánh sáng, âm thanh, vv.

ĐK khởi thuỷ mang ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, thờ cúng. Nó thuần tuý chỉ để trang trí, thưởng ngoạn cái đẹp, khêu gợi rung cảm thẩm mĩ. Theo đặc điểm của các nền văn minh trên thế giới, người ta phân biệt ba nền ĐK lớn phương Đông, Châu Phi và phương Tây.

ĐK phương Đông có hai khuynh hướng: a) Mềm mại, tâm linh. Nổi bật là ĐK Phật giáo, hướng về cái đẹp tượng trưng: ở Việt Nam, tượng A Di Đà chùa Phật Tích (1057), tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp (1656); ở Ấn Độ có tượng Phật Ganđara (Gandhãra) và tượng Phật Matura (Mathurã) thời đại Gupta (Gupta; thế kỉ 4 - 6); ở Trung Hoa là ĐK Vân Cương (Yunjiang; thế kỉ 5), Long Môn (Longmen; thế kỉ 6); ở Nhật Bản có tượng Phật lớn thời Nara (Nara; 645 - 793), tượng A Di Đà của nhà điêu khắc Jôsô (Jōchō; 1603). b) Sung mãn và mãnh liệt: ĐK Ấn Độ giáo đối lập với sự bình yên, huyền bí và oai nghiêm của Phật, hướng về cái đẹp thân thể, nhục cảm.

ĐK Châu Phi do ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thuỷ, nên khối hình ĐK đầy chất hoang dã, bản năng. Nó không miêu tả đối tượng mà thốt lên sự sợ hãi, cầu khẩn, thù địch của con người trước thiên nhiên huyền bí.

ĐK phương Tây miêu tả vẻ đẹp của thân thể con người một cách khoa học và trung thành hơn cả so với hiện thực là nền ĐK cổ Hi Lạp. Nó là mẫu mực ở thời Phục hưng Italia, thời cổ điển thế kỉ 17 và tân cổ điển thế kỉ 18, 19. Nhà điêu khắc Pháp Rôđanh (A. Rodin) là nhân vật vĩ đại cuối cùng của nền ĐK truyền thống Châu Âu. Sau Rôđanh là ĐK thời hiện đại. Từ đây, các ranh giới đều mở rộng đến cực độ, từ hình tượng, quan niệm, chất liệu đến kĩ thuật, do đó ranh giới giữa ĐK, hội hoạ và kiến trúc cũng không còn dễ phân biệt. Hình thể con người cũng không còn là đề tài duy nhất. Năm 1909, Picaxô (P. R. Picasso) tạc đầu phụ nữ theo khuynh hướng lập thể, đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng. Nhiều xu hướng ĐK mới thi nhau xuất hiện. Ở Nga là khuynh hướng cấu trúc, khai thác những cấu trúc hình học thuần khiết trong không gian. Ở Italia là khuynh hướng vị lai, đi tìm thời gian và tốc độ của nền văn minh cơ khí. Ở Anh, Murơ (H. Moore) tăng cường ý nghĩa của sự đối lập giữa khối đặc và những hố khoét rỗng. Canđơ (A. Calder) ở Mĩ, Sôfơ (N. Schöffer) ở Pháp làm những tác phẩm ĐK chuyển động bằng dây thép và lá kim loại, vv. Những tác giả lừng danh Brơncusi (C. Brâncuşi), Đuysăng (M. Duchamp), Lipsit (J. Lipchitz), Giacômetti (A. Giacometti), Acpơ (J. Arp)... đều đưa ra những quan niệm thẩm mĩ hiện đại riêng cho mình.

Sau 1960, nghệ thuật bước sang thời hậu hiện đại, nhiều xu hướng mới tiếp tục xuất hiện: xu hướng ý niệm, xu hướng động hình, xu hướng cường thực..., phần lớn bắt đầu ở Mĩ rồi tràn sang Châu Âu, Châu Á.