Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
“NGỰA”

hình tượng nghệ thuật xuất hiện muộn trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Hiện nay, dưới dạng tượng tròn, "N" được biết sớm nhất ở chùa Phật Tích, Bắc Ninh, niên đại giữa thế kỉ 11, với dạng nằm ngồi trên đài sen, mang ý nghĩa linh vật chuyển tải kinh pháp Phật giáo tới cứu độ chúng sinh. Tới thế kỉ 15 nó xuất hiện ở lăng mộ các vua Lê tại Lam Sơn, Thanh Hoá dưới dạng nhỏ bé thân dài chân ngắn, nhiều nét. Từ thế kỉ 17, nhất là thế kỉ 19, xuất hiện nhiều lần trong tư cách tượng mồ, hình thức gần gũi thực tế, có yên cương đầy đủ. "N" ở đất Bắc không để rỗng lòng dưới bụng như "N" lăng tẩm Huế. "N" mồ được thể hiện một cặp đứng nghiêm chỉnh chầu vào đường linh đạo, nhiều khi chúng mang ý nghĩa linh vật chuyển tải bầu trời với gù tròn trên đầu, giữa hông, để tượng trưng nhật nguyệt, rồi thất tinh điểm xuyết quanh gù hồng vân. Yên thường là phượng (linh vật tượng trưng cho tầng tiên). "N" ở các mồ quận công xứ Bắc được làm bằng đá xanh hoặc đá ong, đôi khi đắp bằng vữa gạch, với kích thước to như thật hoặc lớn hơn. "N" ở Huế chủ yếu bằng đá thanh (đá vôi).