Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
PHÂN TỬ

phần tử nhỏ nhất của một chất tồn tại ở trạng thái tự do còn giữ được đầy đủ các tính chất của chất ấy. PT cấu tạo bởi các nguyên tử kết hợp với nhau bằng các liên kết hoá học (lực tương tác điện tử). Thành phần định tính và định lượng của PT được phản ánh qua các công thức hoá học. Số lượng nguyên tử tham gia tạo thành PT có thể rất khác nhau. Vd. cacbon oxit (CO) gồm hai nguyên tử; các chất cao phân tử có đến hàng trăm, hàng nghìn nguyên tử hợp lại. Ngày nay, người ta đã tổng hợp được hàng triệu PT (các chất) nhân tạo, không có trong tự nhiên.

PT là bắt đầu của thế giới vi mô với các quy luật lượng tử. Cũng từ PT mà xuất hiện sự sống. Cơ thể con người là một cấu trúc khổng lồ gồm hàng tỉ tế bào, và mỗi tế bào gồm hàng tỉ PT đủ mọi loại: vô cơ (nước, các chất khoáng) và hữu cơ (protein, cacbon hiđrat, lipit, vv.). Nhóm PT hữu cơ quan trọng hơn cả là protein hay còn gọi PT của sự sống, vì chỉ sinh vật mới có protein. Các PT cacbon hiđrat và lipit cung cấp năng lượng cho hoạt động của protein. Các PT vô cơ khác giữ một vai trò thứ yếu hơn nhưng cũng rất cần thiết cho đời sống tế bào. Trong hoàn cảnh bệnh lí, có những PT bất thường xuất hiện, vd. những PT vô cơ (nhiều nước trong bệnh phù; thiếu vôi trong còi xương), cũng như những PT hữu cơ. Các PT hữu cơ có thể chỉ tăng về mặt số lượng, không thay đổi về mặt chất lượng (tăng gluxit trong máu ở bệnh đái tháo đường; tăng lipit trong máu ở bệnh xơ vữa động mạch, vv.); có thể có những PT protein lạ như protein Benxơ Jon (protein de Bence Jones) xuất hiện trong bệnh Kalơ [Ph. maladie de Kahler, theo tên của thầy thuốc người Đức Kalơ (O. Kahler; 1849 - 93)]; những PT bất thường lắng đọng như những phức hợp PT kháng nguyên - kháng thể trong viêm cầu thận mạn, bệnh huyết thanh (ngựa), vv.