Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
SẮT

(L. Ferrum), Fe. Nguyên tố hoá học nhóm VIII B, chu kì 4 bảng tuần hoàn các nguyên tố; số thứ tự 26; nguyên tử khối 55,847. Là kim loại màu trắng bạc, có các dạng thù hình khác nhau về cấu trúc tinh thể hay về tính chất từ học. Trong phạm vi từ nhiệt độ thường đến dưới 769oC, ở dạng α - Fe mạng tinh thể lập phương thể tâm, khối lượng riêng 7,874 g/cm3, tính chất sắt từ ổn định; ở 769oC (điểm curi), chuyển sang dạng  β - Fe với mạng tinh thể lập phương diện tâm và trở nên thuận từ. Trong phạm vi 910oC đến 1.400oC, ở dạng γ - Fe; trên 1.400oC chuyển sang dạng δ - Fe và lại trở về mạng tinh thể lập phương thể tâm; tnc = 1.539oC. Có tính rèn - dập - cán - kéo tốt vì có độ dẻo cao và tự hàn. Tính chất cơ học phụ thuộc vào độ tinh khiết của nó và vào hàm lượng và bản chất các nguyên tố khác trong hợp kim sắt thậm chí với một lượng rất nhỏ. Trong không khí ẩm, bị gỉ nhanh, bị phủ một lớp sắt oxit hiđrat màu nâu, xốp nên không bảo vệ được sắt khỏi bị oxi hoá tiếp tục. Do có thể hoà tan cacbon và nhiều nguyên tố khác, sắt chế biến được thành nhiều hợp kim. Dung dịch rắn của cacbon trong α - Fe được gọi là ferit, trong γ - Fe là oxtenit. Do có ái lực lớn với oxi và nhiều nguyên tố khác, Fe phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, ở dạng hợp chất oxit, sunfit, vv. Về hàm lượng trong vỏ Trái Đất, Fe đứng hàng thứ tư trong tất cả các nguyên tố, sau oxi, silic và nhôm (trữ lượng của sắt xếp thứ hai sau nhôm, trong số các kim loại), chiếm khoảng 4% khối lượng vỏ Trái Đất, có trong khoảng 300 loại khoáng. Những khoáng vật Fe quan trọng nhất là: manhetit, titanomanhetit, hematit. Do có nhiều tính chất quý, sắt là kim loại quan trọng nhất đối với sự phát triển của nền văn minh loài người và trong kĩ thuật hiện đại. Khoảng một nghìn năm trước Công nguyên, con người đã biết sử dụng đồ dùng bằng sắt. Việc luyện kim sắt ở Châu Âu và Châu Á bắt đầu từ những thế kỉ 9 - 7 tCn. Trong kĩ thuật, được dùng chủ yếu dưới dạng hợp kim, nhất là hợp kim với cacbon (gang và thép). Vật liệu kim loại trên cơ sở của Fe (thép, gang và các hợp kim đặc biệt) chiếm khoảng 95% tổng sản lượng vật liệu kim loại sản xuất hằng năm trên thế giới. Sắt là một thành phần của hồng cầu. Sắt có vai trò quan trọng đối với đời sống của thực vật, động vật và con người, dù chỉ với một lượng chứa rất nhỏ (từ 0,004 - 0,02%).

Trong thực tế, các hợp kim của sắt (thép, gang) và tất cả các vật liệu trên cơ sở sắt đều được gọi là “sắt”, vd. sắt phế cũng là thép phế, gang phế.