Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MẠNG KHÔNG GIAN

(cg. mạng tinh thể), khái niệm hình học trừu tượng mô tả sự phân bố có quy luật của các hạt vật chất trong cấu trúc tinh thể. Sự lặp lại tuần hoàn theo ba chiều trong không gian của các hạt có thể mô tả bằng các phép tịnh tiến. Tập hợp tất cả các phép tịnh tiến có thể trong một cấu trúc tạo nên một "nhóm tịnh tiến" hay một "mạng không gian". Để mô tả tính tuần hoàn của cấu trúc chỉ cần dùng một số phép tịnh tiến tối thiểu, vd. ba phép tịnh tiến trên ba mặt phẳng khác nhau. Nếu xuất phát từ một điểm gốc, các phép tịnh tiến sẽ thực hiện trên ba cạnh chính của một khối hộp - một ô mạng. Bằng cách cho hình hộp này tịnh tiến theo cả ba chiều trong không gian sẽ được một hệ thống gồm vô hạn những hình hộp đơn vị - một mạng không gian.

Cấu trúc của các tinh thể được biểu diễn bằng các MKG (mạng tinh thể), tại các nút mạng (đỉnh hoặc tâm các mặt, tâm các khối hộp) là các hạt vật chất (nguyên tử, ion, phân tử) cấu tạo nên tinh thể (xt. Cấu trúc tinh thể). Hai chất cấu tạo từ một loại nguyên tử nhưng có mạng tinh thể khác nhau là khác nhau (vd. than chì và kim cương đều cấu tạo từ các nguyên tử cacbon). Có tất cả 14 loại MKG có thể có của tinh thể gọi là mạng Brave [do Brave (A. Bravais) tìm ra 1851].

Trong hình vẽ, các ô mạng cơ sở (ô mạng đơn vị) của 14 loại mạng Brave, thuộc bốn kiểu chính: 1) Nguyên thuỷ (kí hiệu là P): các nút mạng nằm ở các đỉnh của ô mạng cơ sở. 2) Tâm đáy (O): các nút mạng nằm ở tâm và hai đáy. 3) Tâm khối (I): các nút mạng nằm ở các đỉnh và trung tâm. 4) Tâm mặt (F): các nút mạng nằm ở đỉnh và tâm của các mặt. Các ô mạng đơn vị này (các khối hộp) có kích thước của các cạnh, góc giữa các mặt của khối hộp là những giá trị xác định tuỳ thuộc vào hệ tinh thể (xt. Hệ tinh thể; Tinh thể).

 


Mạng không gian