Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LAI HÓA

sự tổ hợp của một số obitan trong một nguyên tử thành những obitan mới có dạng khác các obitan ban đầu nhưng có khả năng xen phủ cao hơn và do đó có thể tạo liên kết bền hơn. Khái niệm này được nhà hoá học Hoa Kì Paolinh L.C (L. C. Pauling) đưa ra (1939). Có nhiều kiểu LH khác nhau. Các kiểu LH giữa các obitan s và p là:

1. Kiểu LH sp là sự tổ hợp của một obitan s và một obitan p tạo thành hai obitan lai hoá sp có cùng một trục đối xứng nên còn gọi là kiểu LH thẳng. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và một obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CO2, một phân tử đường thẳng.

2. Kiểu LH sp2 là sự tổ hợp của một obitan s và hai obitan p tạo thành ba obitan lai hoá sp2. Trục đối xứng của ba obitan lai hoá sp2 nằm trên mặt phẳng và tạo với nhau những góc 120o, nên kiểu LH sp2 còn gọi là LH tam giác. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và hai obitan 2p của nguyên tử C trong ion CO32- là kiểu sp2 và ion CO32- có hình tam giác đều.

3. Kiểu LH sp3 là sự tổ hợp của một obitan s và ba obitan p tạo thành bốn obitan lai hoá sp3. Trục đối xứng, của bốn obitan lai hoá sp3 tạo nên với nhau ở trong không gian những góc 109o28', nghĩa là các obitan đó hướng tới các đỉnh của một tứ diện đều, nên kiểu LH này còn gọi là LH tứ diện. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và ba obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CH4 là kiểu LH sp3 và phân tử CH4 có hình tứ diện đều.